TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
ĐỌC THƠ XUÂN CỦA HOÀNG ĐẾ THIỆU TRỊ
ĐỌC THƠ XUÂN CỦA HOÀNG ĐẾ THIỆU TRỊ
NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 30 Tháng 3, 2026 lúc 16:19
Sách “Thơ Hoàng đế Thiệu Trị – đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ”(1) của tác giả Nguyễn Phước Hải Trung có đến 427 tr. Nội dung chính gồm 3 phần: Hoàng đế Thiệu Trị và trước tác (37tr.); Hoàng đế Thiệu Trịvà quan niệm thi ca (27tr.); Đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ (251 tr.). Vua Thiệu Trị là người có kiến văn sâu rộng (sđd, tr.7 – tr.10). Chỉ với 7 năm trị vì đã để lại di sản văn chương đồ sộ: Riêng “Ngự chế thi tập” với: 2.936 tác phẩm, đây là tập đại thành thi ca (thời gian sáng tác sung sức nhất của vua với bình quân mỗi năm trên 500 bài). Tác giả Nguyễn Phước Hải Trung đã trình bày quan niệm thơ ca của Hoàng đế Thiệu Trị: “Thơ là công cụ giáo hóa và tự tu dưỡng; Thơ gắn liền với đạo trị quốc và lòng yêu nước; thơ là sự kết hợp giữa tình cảm và trách nhiệm; Thơ phải có cả cảm xúc lẫn kỹ pháp – thơ là đạo lý”. (sđd, tr.48, 49).
Lễ giới thiệu cuốn “Thơ Hoàng đế Thiệu Trị – đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ” của Nguyễn Phước Hải Trung
Ở mục “Đề Hiệp kỷ lịch nhị thập tứ tiết” thuộc phần 3 của sách có chùm thơ 24 bài viết về các tiết khí trong năm, theo thể thất ngôn tứ truyệt. “Chùm thơ trước tiên thể hiện hào khí Nho học và tinh thần lịch pháp. Điểm nổi bật đầu tiên khi tiếp cận chùm thơ này là tính hệ thống của tri thức thiên văn thời cổ, lịch pháp được diễn đạt bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh…” (sđd, tr. 116).
Thơ tứ tuyệt hàm súc tối đa về mặt ngôn từ và cấu trúc cân đối, hài hòa, ổn định; thể thơ ngắn gọn nhưng giàu sức chứa, gợi nhiều hơn tả, chú trọng ở lớp ý nghĩa ngầm ẩn thôi thúc người đọc không ngừng khám phá. “Thơ của người xưa, lấy hùng hồn làm gốc, bình đạm làm khéo, câu tuy ngắn nhưng ý thì dài, lời tuy ngắn nhưng nghĩa lại xa” (Nguyễn Dữ) – thể hiện tài năng của nhà thơ trong việc cô đọng cảm xúc, triết lý sâu sắc vào từng câu chữ, tạo nên sức gợi lớn cho người đọc.
Chùm thơ về mùa xuân của Hoàng đế Thiệu Trị đạt đến độ “bình đạm” từ cảm hứng với thiên nhiên, đến ngôn ngữ giản dị, hàm súc, tứ thơ ngắn gọn. Để cảm nhận được vẻ đẹp thơ xuân của Hoàng đế Thiệu Trị, người đọc cần có sự tri âm, sự rung động của tâm hồn, khả năng cảm thụ và suy ngẫm để giải mã những lớp nghĩa ẩn sâu bên trong.
Chúng tôi xin phân tích 2 trong số 6 bài thơ xuân (2): “Lập xuân (bắt đầu mùa xuân); Cốc vũ (Mưa rào nuôi lúa) để hiểu thêm “chùm thơ thể hiện mĩ cảm nghệ thuật và tình yêu thiên nhiên” (sđd, tr.117) trong thơ Hoàng đế Thiệu Trị.
Trong sách, tất cả các bản dịch thơ là của tác giả Nguyễn Phước Hải Trung, tài dịch thơ của anh thì ngoài dịch đúng (thi luật của thơ thất ngôn tứ tuyệt), anh còn dịch hay (thấu hiểu sâu sắc bài thơ gốc, ngôn ngữ chính xác, súc tích và giàu hình tượng, giàu cảm xúc văn chương). Từ cuốn sách “Chơi chữ Hán Nôm – những bài thơ độc đáo” cách đây 23 năm, tác giả đã thấu hiểu sâu sắc bài thơ gốc. Anh vốn là nhà thơ, lại là người có “kiến văn của một Tiến sĩ văn học” nên các bài thơ được dịch hay và rất hay – giữ được hồn cốt tác phẩm gốc, mang lại giá trị thẩm mĩ cao.
1. Nguyên văn: 立春
斗 指 旋 杓 東 北 維
惠 風 條 達 萬 方 宜
青 旛 綠 勝 迎 春 至
星 應 農 祥 美 歲 知
Phiên âm: Lập xuân
Đẩu chỉ toàn tiêu đông bắc duy,
Huệ phong điểu đạt vạn phương nghi.
Thanh phan lục thắng nghinh xuân chí,
Tinh ứng nông tường mỹ tuế tri
Dịch thơ: Tiết lập xuân
Đông bắc, đẩu xoay báo lập xuân,
Điều hoà gió nhẹ vạn phương mong.
Muôn màu cờ xí mừng xuân mới,
Sao ứng điềm lành thuận vụ nông.
Lập xuân là thời điểm kết thúc tiết Đại hàn, là khí tiết đầu tiên của năm, đây cũng là thời điểm đánh dấu sự khởi đầu của mùa xuân, mang ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của người dân Việt Nam cũng như nhiều nước Á Đông.
Bài thơ được viết bằng cảm hứng nhẹ nhàng với những thông điệp vui, trong cái nhìn về sự biến chuyển của tiết khí, đây là thời điểm trời đất giao hoà âm dương, được xem như là “giao thừa” nếu xét về khí hậu: Đẩu chỉ toàn tiêu đông bắc duy – Đông bắc, đẩu xoay báo lập xuân – khi có gió đông bắc thổi và chòm sao Đẩu chỉ về hướng đông bắc thì đó là dấu hiệu báo tiết Lập xuân sắp tới. Câu thơ thể hiện tâm trạng của thi nhân là mong chờ, hân hoan, tin tưởng vào sự hồi sinh của thiên nhiên với niềm hy vọng sự ấm áp, tươi mới của mùa xuân đang về. Với tài thơ của Hoàng đế Thiệu Trị thì còn thể hiện sự nhạy cảm tinh tế của thi nhân trước những biến đổi của thiên nhiên, kết hợp giữa yếu tố thiên văn, thời tiết và cảm xúc của con người.
Huệ phong điểu đạt vạn phương nghi – Điều hoà gió nhẹ vạn phương mong – diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên thanh bình, êm dịu, đồng thời ẩn chứa ý nghĩa tượng trưng sâu sắc về ước vọng hoà hợp, an lành, và sự tốt đẹp lan toả khắp nơi. Câu thơ tả cảnh ngụ tình – miêu tả cảnh vật và gửi gắm ước vọng về những điều tốt lành, an yên và hi vọng.
Hai câu thơ mở đầu bài thơ như bức tranh thuỷ mặc với vài nét chấm phá về sự đổi thay khí tiết trong cái nhìn bao quát của thi nhân về thiên nhiên; bức tranh bình dị mà có chiều sâu, gợi mở về sự kết nối giữa con người và thiên nhiên, mang đến cảm giác an yên, tươi mới và sâu lắng.
Ngày lập xuân mang ý nghĩa quan trọng, biểu trưng cho sự khởi đầu mới, may mắn và thịnh vượng, nhiều nơi tổ chức các nghi lễ truyền thống để chào đón mùa xuân: Thanh phan lục thắng nghinh xuân chí – Muôn màu cờ xí mừng xuân mới. Tác giả Nguyễn Phước Hải Trung sử dụng từ Muôn màu trong bản dịch ở câu thơ thứ 3 quá hay, nó không chỉ gợi tả sự tươi sáng, rực rỡ của cờ hoa mà còn bao hàm cả sự đa dạng, phong phú, niềm hân hoan lan toả. Một bức tranh mùa xuân vừa trang trọng, vừa gần gũi với niềm vui sum vầy trong không khí đoàn viên.
Tinh ứng nông tường mỹ tuế tri – Sao ứng điềm lành thuận vụ nông. Câu thơ thể hiện sự quan sát của thi nhân về thiên văn (sao) và thiên nhiên (tiết khí Lập Xuân) để dự báo một năm nông nghiệp thuận lợi, may mắn, hứa hẹn bội thu; phản ánh ước vọng của cư dân văn hoá nông nghiệp về một năm mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi. Đây là đỉnh cao của tính hàm súc trong thơ ca, đặc biệt với thơ tứ tuyệt, dùng ít lời nhất để diễn đạt nhiều cảm xúc, suy tư sâu sắc, tạo chiều sâu ý nghĩa, giúp thơ vượt thoát giới hạn ngôn từ, chạm đến tâm hồn người đọc qua hình ảnh, cùng sự tinh tế của tứ thơ. Quan niệm dân gian, phong thuỷ thường dựa vào những dấu hiệu dự báo điều tốt đẹp, may mắn sẽ đến khi có Sao ứng điềm lành – một thủ pháp nghệ thuật để gợi ý về những sự kiện tích cực sắp xảy ra – khi có các dấu hiệu Sao ứng tích cực, năng lượng vượng khí sẽ lan toả, khiến các hoạt động nông nghiệp diễn ra suôn sẻ, thuận lợi, đúng mùa vụ – đó là sự hài hoà giữa con người và thiên nhiên – Thiên nhân tương dữ.
Chiều sâu thi tứ trong bài thơ Lập xuân nằm ở sự kết hợp tinh tế giữa quan sát thiên văn, dự báo thời tiết, lễ hội mừng xuân và trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất (nông nghiệp) cho dân, tất cả quyện lại trong một bức tranh hài hoà, thể hiện vai trò và tâm nguyện của bậc quân vương, đó cũng là lý tưởng vua tôi hoà hợp..
2. Nguyên văn: 穀雨
花 濃 三 月 歷 春 深
優 渥 時 加 快 澍 霖
茂 遂 霑 滋 催 穀 熟
倉 箱 諒 可 叶 詩 吟
Phiên âm: Cốc vũ
Hoa nùng tam nguyệt lịch xuân thâm,
Ưu ác thời gia khoái thụ lâm.
Mậu toại triêm tư thôi cốc thục,
Thương sương lượng khả hiệp thi ngâm.
Dịch thơ: Tiết cốc vũ
Hoa rộ tháng ba báo cuối xuân,
Trời ban đúng lúc đợt mưa ngân.
Tưới xanh ngũ cốc cùng hoa cỏ,
Kho lúa tràn đầy thơ vịnh ngâm.
Tiết Cốc Vũ là một tiết khí quan trọng trong văn hoá nông nghiệp lúa nước, thời điểm những cơn mưa rào xuất hiện, mang theo nguồn nước quý giá, có ý nghĩa đối với sự sinh trưởng của cây trồng. Đây là giai đoạn thiên nhiên tràn đầy sinh lực.
Hoa nùng tam nguyệt lịch xuân thâm – Hoa rộ tháng ba báo cuối xuân. Tháng ba, với những sắc màu rực rỡ của hoa, thực sự là một khúc giao mùa đầy ấn tượng, đẹp đẽ như chính bản chất của tiết xuân sâu thẳm – xuân thâm – mùa xuân đầy đặn, trọn vẹn nhất, gợi cảm giác cảnh vật đang ở đỉnh cao của thời kì xuân sắc.
Thời điểm đó thì gặp trận mưa xảy ra đúng khoảnh khắc người ta mong chờ: Ưu ác thời gia khoái thụ lâm – Trời ban đúng lúc đợt mưa ngân – câu thơ dịch vừa sát, vừa thoát. Trời ban đúng lúc – nhấn mạnh tính thời điểm, sự tình cờ nhưng hoàn hảo, xuất hiện đúng lúc cần; đợt mưa ngân – mưa rả rích, dịu êm, trầm lắng, thấm đẫm không gian – cơn mưa đúng lúc như một ân huệ của đất trời, khơi gợi cảm xúc, kết nối con người với thiên nhiên. Nó nâng tầm cơn mưa từ một hiện tượng tự nhiên thành một biểu tượng đầy ý nghĩa.
Đặc trưng khí tiết cuối xuân (Cốc Vũ) là mưa nhiều, ẩm ướt, cây cối sinh trưởng mạnh mẽ: Mậu toại triêm tư thôi cốc thục – Tưới xanh ngũ cốc cùng hoa cỏ – khi mưa xuống tưới đẫm cây cối, ngũ cốc và hoa cỏ, mở ra kỳ vọng về mùa vụ bội thu. Những cơn mưa đúng lúc trong tiết Cốc Vũ vô cùng quý giá, mở đầu cho một mùa vụ đầy hy vọng.
Nhà phê bình Hoàng Thị Thu Thủy
Hình ảnh đất trời, khí tiết thuận hoà trong thơ ca không chỉ là phông nền thiên nhiên mà còn là tấm gương phản chiếu chân thực, đẹp đẽ về cuộc sống bình dị, no ấm, yên bình của nhân dân; thể hiện khát vọng hoà hợp giữa con người và thiên nhiên, sự sung túc của một xã hội nông nghiệp truyền thống, nơi mà mùa màng bội thu, cuộc sống ấm êm dưới trời yên biển lặng.
Với cảm hứng đó, thì Thương sương lượng khả hiệp thi ngâm – Kho lúa tràn đầy thơ vịnh ngâm. Kho lúa – biểu tượng cho sự no đủ, mùa màng bội thu, cuộc sống no ấm; tràn đầy thơ vịnh ngâm – Không chỉ là vật chất mà nguồn cảm hứng dồi dào, là thơ tuôn chảy bởi sự hoà quyện giữa cuộc sống lao động với tâm hồn nghệ sĩ. Câu thơ diễn tả trạng thái an nhàn, hoà hợp tuyệt đối giữa tâm hồn thi nhân với thiên nhiên.
Cùng với tâm thế sống hoà mình vào tự nhiên, nhà thơ đã mang vẻ đẹp của tạo hoá vào thơ ca, làm cho tâm hồn người đọc cũng được tưới tắm và kết nối với đất trời.
Giọng thơ bình đạm như kiểu tức cảnh, sinh tình nhưng ẩn chứa biết bao yêu thương, nơi thiên nhiên tươi đẹp trong thơ Hoàng đế Thiệu Trị phản ánh tâm hồn và vận mệnh của đất nước. Ý tứ của bài thơ logic, sâu sắc theo bố cục chặt chẽ của bài thơ tứ tuyệt (mở cảnh, nối ý, dự cảm, kết thúc lắng đọng). Câu thơ mở đầu mở ra một không gian, thời gian cụ thể: tháng ba hoa cỏ tươi tốt; câu thơ thứ hai nối tiếp ý thơ hoa cỏ tươi tốt bởi có trận mưa vàng; câu thơ thứ ba đắt giá khi biết trước mùa màng sẽ bội thu; và câu thơ thứ tư để lại dư âm sâu lắng bởi tâm hồn thơ lai láng của thi nhân.
Những bài thơ xuân của vua Thiệu Trị là những tuyệt phẩm độc đáo, vì sự kết hợp hài hoà giữa tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, uyên bác và trách nhiệm của bậc đế vương; thể hiện qua ngôn ngữ giàu hình ảnh, thấm đẫm triết lý sâu sắc về thiên nhiên, nhân sinh, lòng yêu dân, thương nước và kĩ thuật thi ca bậc thầy, làm nổi bật tài năng đa diện của một vị vua – thi sĩ. “Việc vua Thiệu Trị tự mình sáng tác thơ về thiên văn nông lịch thể hiện vai trò của nhà vua như người giáo hoá, hướng dẫn thần dân sống hài hoà với trời đất, vận hành theo quy luật tự nhiên… Chùm thơ này của vua Thiệu Trị là một tuyệt phẩm văn học độc đáo, kết hợp giữa thơ ca, lịch pháp, thiên văn và tư tưởng triết học phương Đông” (Nguyễn Phước Hải Trung, sđd, tr.118).
HOÀNG THỊ THU THỦY
———————————–
(1) Thơ Hoàng đế Thiệu Trị – đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ, Nguyễn Phước Hải Trung, Nxb Văn học, 2025
(2) “Lập xuân (bắt đầu mùa xuân); Vũ thuỷ (Mưa ẩm); Kinh trập (Sâu bọ thức dậy); Xuân phân (ngày đêm bằng nhau mùa xuân); Thanh minh (Trời trong sáng); Cốc vũ (Mưa rào nuôi lúa) – (sđd, tr.99).
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.