TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NGUYỄN THÔNG VÀ TƯ TƯỞNG HÒA HỢP DÂN TỘC
NGUYỄN THÔNG VÀ TƯ TƯỞNG HÒA HỢP DÂN TỘC
PHẠM TUẤN VŨ
Sinh năm1991 tại Phú Ninh, Quảng Nam
Hiện thường trú tại Tư Nghĩa, Quảng Ngãi
***
1. Nguyễn Thông (1827 - 1884) tự Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am là danh sĩ đất Nam Kỳ, nhà trí thức canh tân, nhà thơ yêu nước lớn của Việt Nam thế kỷ XIX. Ông làm quan dưới thời Tự Đức. Hoạn lộ thăng trầm nhưng Nguyễn Thông luôn để lại được những dấu ấn quan trọng tại các địa phương nơi mình đến nhiệm sở. Ông được biết đến là vị quan thanh liêm, hết lòng yêu nước, thương dân. Đặc biệt, qua những trước tác Nguyễn Thông để lại, người ta còn nhận ra ông là người có suy nghĩ độc lập, giàu tinh thần phản biện. Tư tưởng hòa hợp dân tộc trong thơ ông là một điển hình cho điều này.
Tượng thờ Nguyễn Thông
2. Trong di sản văn chương Nguyễn Thông, Tống Tiễu phủ sứ Đỗ Tùng Đường phó Tĩnh Man quân (tiễn quan Tiễu phủ sứ là Đỗ Tùng Đường đi quân vụ Tĩnh Man) là một bài thơ hết sức quan trọng. Nguyễn văn bài thơ:
Linh khải đằng thương tái hạ lai
Mãn thành tranh đổ sứ xa hồi
Mạn truyền lại sự thôi niên lão
Tằng kiến quân thư ỷ mã tài
Ly Thủy cựu đồn yêu thảo quật
Hoành Sơn tân lũy loạn vân đôi
Man Khê tự cổ kham tùng tiếu
Thái bút bằng quân thi nhất khai
Bản dịch nghĩa theo cuốn Tác phẩm Nguyễn Thông (Cao Tự Thanh – Đoàn Lê Giang dịch và giới thiệu, Sở Văn hóa và Thông tin Long An xuất bản, 1984):
Giáp trụ, thương đao ra cửa ải
Khắp thành tranh nhau nhìn xe sứ về
Nghe đồn rằng việc quan làm cho già đi
Nhưng lại sớm nhận được thư ông dựa vào lưng ngựa viết
Ở đồn cũ Nước Re cỏ dại đã mọc đầy hào
Trên lũy mới Hoành Sơn mây loạn lại đùn thành gò
Việc đánh dẹp Man Khê từ xưa để chịu tiếng cười chê
Bút thơ vì ông thử viết một bài.
Đây là bài thơ làm để tiễn Đỗ Tùng Đường đi giữ chức Tiễu phủ sứ Tĩnh Man. Đỗ Tùng Đường tức Đỗ Đăng Đệ (1814 - 1888), người xã Châu Sa (huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), đỗ Cử nhân năm 1841, Phó bảng năm 1842, làm quan đến Bố chánh Định Tường, Biện lý bộ Hộ. Tùng Đường là bạn thân thiết của Nguyễn Thông. Ngoài bài thơ trên, Nguyễn Thông còn có một số bài viết về người đồng liêu Quảng Ngãi như Độc Tùng Đường “Thu hoài” chi tác nhân thứ kỳ vận (đọc bài “Thu hoài” của Tùng Đường nhân đó họa theo vần), Biệt Tùng Đường (từ biệt Tùng Đường), Thứ tiền vận ký Tùng Đường Hộ bộ (theo vần trước làm gửi ông Tùng Đường ở bộ Hộ). Đặc biệt, trong bài Biệt Tùng Đường, Nguyễn Thông cho biết tình bạn gắn bó giữa hai ông trong thời gian mình giữ chức Bố chánh Quảng Ngãi: Tiêu tiêu đản vũ mãn quan hà/ Phốc bị đồng quân thính dạ qua (Mưa rừng rả rích khắp quan hà/ Ôm chăn cùng ông nằm nghe đêm đi qua). Không chỉ là đồng liêu, Tùng Đường còn là tri kỷ của Độn Am. Đây là lí do quan trọng để Nguyễn Thông chia sẻ một cách cởi mở những suy nghĩ độc lập của mình về việc “tĩnh man” trong bài thơ tiễn Tùng Đường vừa nêu trên.
Năm 1871, Đỗ Đăng Đệ nhận chức Tiễu phủ sứ Tĩnh Man. Từ thời Lê, nhất là dưới thời các chúa Nguyễn, tại vùng núi phía Tây Quảng Ngãi kéo dài đến bắc Bình Định, để ngăn chặn các dân tộc thiểu số quấy phá, chính quyền cho xây Tĩnh Man trường lũy (lũy dài để chặn người mán). Đến năm 1865, dưới thời Tự Đức, đổi thành Tĩnh Man quân thứ, đặt một Tiễu phủ sứ trông coi. Đây được xem là hệ thống phòng thủ lớn nhất mà triều Nguyễn đặt tại miền Trung để trấn áp các dân tộc ít người.
Khi viết bài thơ tiễn người bạn thân Đỗ Tùng Đường đi giữ chức Tiễu phủ sứ Tĩnh Man, hẳn nhà thơ đã suy nghĩ rất nhiều về công vụ này. Bởi triều Nguyễn trước và trong thời Nguyễn Thông làm quan đã có không ít lần trấn áp người dân tộc thiểu số. Đặc biệt, khoảng năm 1855, tại Nước Re (viết chữ Hán là “Ly Thủy”), vùng thượng nguồn sông Trà Khúc (Quảng Ngãi), quân triều đình đã có cuộc đàn áp đồng bào dân tộc ít người tại đây. Chính sách “tĩnh man” cứng rắn của triều đình chắc hẳn có những tác động lớn đến suy nghĩ, nhận thức của Nguyễn Thông. Đây là lý do để ông viết hai câu luận trong bài thơ tiễn Đỗ Tùng Đường với những hình ảnh đầy hoang tàn, u ám:
Đồn cũ Nước Re hào đầy cỏ
Lũy mới Hoành Sơn mây thành gò.
Đây cũng là lý do Nguyễn Thông viết về việc người đồng liêu đi nhậm chức Tiễu phủ sứ Tĩnh Man bằng những vần thơ chẳng mấy hào hứng: Giáp trụ, thương đao ra biên thùy/ Khắp thành tranh xem xe sứ về (sứ xa: xe sứ, là “xe đi trừ giặc” [sứ xa, khu nghịch chi xa dã – sách Chu lễ]; ở đây chỉ Đỗ Đăng Đệ nhận chức đi “tĩnh man”) và đặc biệt: Nghe kể việc quan làm cho già…
Toàn bộ tư tưởng của bài thơ tập trung trong câu thơ thứ 7: Man Khê tự cổ kham tùng tiếu (chuyện Man Khê từ xưa đã chịu tiếng cười chê). Không thể nêu ra trực tiếp triều đình Huế, Nguyễn Thông đành mượn điển xưa. Man Khê còn gọi Ngũ Khê. Thời Đông Hán, người dân vùng Ngũ Khê nổi dậy chống ách cai trị hà khắc của chính quyền. Mã Viện dù đã già nhưng vẫn xin cầm quân đi đàn áp. Dùng điển với ý phê phán chính sách đàn áp người dân tộc thiểu số tại vùng Ngũ Khê của nhà Đông Hán, Nguyễn Thông đã ngầm thể hiện thái độ “không tán thành chính sách của triều đình, dùng quân đội trấn áp đồng bào các dân tộc ít người” (Tác phẩm Nguyễn Thông, Sđd, tr.129).
Như ta biết, Nguyễn Thông là người sớm tiếp xúc với nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là trong quãng thời gian công cán, lưu trú tại Nam Trung Bộ. Chính trong một bài thơ khác gửi Tùng Đường, Nguyễn Thông ít nhiều nói lên điều này qua hình ảnh những ngôi làng người Chiêm Thành, Chân Lạp mà mình bắt gặp trên bước đường công vụ: Sơn hoàn Chiêm, Lạp chư phiên cận (Núi bao vây mấy làng dân Chiêm Thành, Chân Lạp ở gần – Thứ tiền vận ký Tùng Đường Hộ bộ). Tiếp xúc, am hiểu về các cộng đồng người thiểu số, Nguyễn Thông nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách “phủ biên” đúng đắn trong việc giữ vững phên dậu, bờ cõi. Là người có tinh thần hòa hợp dân tộc, việc Nguyễn Thông không tán thành chính sách cứng rắn của triều đình là tất yếu.
3. Nhắc đến nhà thơ Nguyễn Thông, người ta nghĩ ngay đến hình ảnh một nhà nho hành đạo, trí thức yêu nước, nhà canh tân tiêu biểu của Nam Kỳ ở thế kỷ XIX. Đặc biệt, ông là người sớm có tư tưởng hòa hợp dân tộc. Do những nguyên nhân khác nhau, Nguyễn Thông chưa thể trực tiếp lên tiếng phản đối chính sách hà khắc đối với đồng bào các dân tộc ít người của chính quyền đương thời mà ông đang phục vụ. Nhưng thấp thoáng trong những trang viết đầy suy tư về sự cộng đồng các dân tộc thiểu số, đặc biệt là thái độ của ông qua đối với việc “tĩnh man” trong bài thơ tiễn biệt Đỗ Tùng Đường, ta có thể nhận ra những trăn trở của nhà thơ về vấn đề hòa hợp dân tộc. Thơ văn Nguyễn Thông giàu giá trị tư tưởng. Đây là một trong những đóng góp quan trọng của ông đối với văn học Việt Nam trong thế kỷ XIX.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.