• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
TRẦN VŨ MAI VÀ NHA TRANG

TRẦN VŨ MAI VÀ NHA TRANG



NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 13 Tháng 4, 2026 lúc 12:56

 

Giữa mùa đông mưa lũ, rét mướt, nhớ những con đường Nha Trang thân thuộc, trong tôi lại cồn cào nỗi nhớ anh. Không biết Nha Trang có còn nhớ anh, người con tài năng và yểu mệnh của mình, người đã trọn đời mang nặng Nha Trang trong trái tim, người đã cùng Trần Mai Ninh dựng nên tượng đài Nha Trang trong thơ ca Việt Nam, người đã tìm đến được Nha Trang với bao khát khao cháy bỏng rồi lại phải đau đớn chia tay Nha Trang trong tuyệt vọng không cùng.

Người ấy có tên là Trần Vũ Mai.

Nhà thơ Trần Vũ Mai tên thật là Vũ Xuân Mai (1944-1991)

Thực ra anh tên là Vũ Xuân Mai, người Hà Trung – Thanh Hóa. Mai đã yêu Nha Trang từ khi còn là cậu sinh viên Văn khoa (Khóa 8 khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội), qua những trang thơ của Trần Mai Ninh, thi sĩ cách mạng bất tử, người đồng hương Thanh Hóa của anh, tấm gương một thi sĩ – chiến sĩ  mà anh thầm nguyện sẽ noi theo trọn đời. Thơ Trần Mai Ninh, đời Trần Mai Ninh, với anh, là một sự thức tỉnh:

Cực Nam người có nhớ chăng/ Chàng thi sĩ ấy, chết năm mặt trời/ Hóa thành năm sáng trong tôi/ Niềm tin yêu tựa mắt người anh em.- (Nỗi nhớ Trần Mai Ninh)

Những câu thơ đầu tiên anh đọc cho chúng tôi nghe khi cùng nhau tụ hội về Trường bồi dưỡng lực lượng viết văn trẻ Quảng Bá- Hội Nhà văn Việt Nam 1971 –bên cạnh những câu thơ của các thi hào thế giới P.Eluya, Nezvan và của những bạn thơ từ các đô thành miền Nam vừa mới ra Bắc như Trần Vàng Sao, Nguyễn Hữu Ngô, là những câu thơ kỳ diệu của Trần Mai Ninh trong bài  “Nhớ máu”:

Ơi hỡi Nha Trang/ Cái đô thành vĩ đại/ Biết bao người đã niệm đọc tên mi/ Và Khánh Hòa vĩ đại/ Mắt ta căng lên/ Cả mặt/ Cả người/ Cả hồn ta sát tới…

Trong bài thơ được bạn bè coi là tuyệt bút “Thảm cỏ bờ sông Hồng” viết trong những ngày ở Quảng Bá, bài thơ chia tay Hà Nội, chia tay “những phố hè… lá đổ tinh mơ rêu phủ/ những đường cong xa vời/gạch lửa phơi đỏ thắm”,  chia tay “thảm cỏ bờ sông Hồng non tơ/màu cẩm thạch nghiêng nghiêng chào giã biệt”,  để vào chiến trường, trong lúc tâm sự với người yêu:

Nếu ta có lỗi với em/ Cũng vì ta muốn mình không có lỗi/ Trước mặt em còn được tươi cười/ Giọng vang và trẻ mãi/ Bao giờ ta cũng chỉ ta thôi/ Mai đã nói một cách đầy tự hào về cái đích đến phía trước của mình:/ Em/ Nhỏ bé và trắng tinh/ Trước mặt thảm cỏ dòng sông/ Cầm tay một bông đại đóa/ Em ạ chớ buồn/ Anh vào Cực Nam đây

Từ bài thơ hết sức ấn tượng báo hiệu cho sự xuất hiện một phong cách thơ khá độc đáo trong thơ hiện đại Việt Nam, trong sự ảnh hưởng của P.Êluya và Trần Mai Ninh, Vũ Xuân Mai đã lấy họ của nhà thơ chiến sĩ đồng hương làm họ bút hiệu của mình. Và theo chính con đường của Trần Mai Ninh, con đường Nam tiến, xuyên Việt năm xưa, anh  đã lên đương đến với chiến trường khu 5 ác liệt, đến với Nha Trang xa thẳm Cực Nam. Trước lúc lên đường anh đã gửi lại miền Bắc yêu thương những câu thơ vào loại hay nhất của thời thơ chống Mỹ:

Chúng tôi đi về miền Nam/ Lòng nghĩ thương cây mạ/ Chạy lên đê ngắm lại sông Hồng/ Tháng Tư về sông Mã/ Kìa ai hố khoan/ Nước mắt bàn chân sóng vỗ mạn thuyền/ Khu Bốn đỏ dài dải lụa/ Bến Hải mềm như lá lúa/ Lên bờ chân bước bâng khuâng –(Những người đã lớn)

Nhà thơ Trần Vũ Mai (bên phải), nhà thơ Đỗ Nam Cao và nhà thơ Nguyễn Thế Khoa gặp nhau ngay Sài Gòn giải phóng năm 1975.

Anh em văn nghệ giải phóng Khu 5 chúng tôi hồi ấy ai cũng ngạc nhiên vì tình yêu kỳ lạ của Trần Vũ Mai đối với mảnh đất Cực Nam, đối với Nha Trang mà anh chưa từng đặt chân tới. Vừa vào đến Khu ủy Khu 5 ở Trà Mi Quảng Nam được ít ngày, anh đã xin đi ngày về chiến trường Cực Nam. Hồi ấy Cực Nam là chiến trường gian khổ và ác liệt  nhất của Khu 5 vốn đã vô cùng ác liệt. Đường vào Cực Nam lại dàng dặc và hết sức nguy hiểm. Nhưng với anh, mọi cái đều không đáng kể. Điều quan trọng nhất là được đến Cực Nam, đến được Nha Trang của anh. Và anh lại ba lô đi tiếp chặng đường xuyên Việt trong nỗi ám ảnh không dứt của cái đô thành mang tên Nha Trang:

Rồi tôi đi qua những cánh rừng/ Có đêm chợp ngủ bên dòng Daksuk/ Súng để gối đầu chân thì gối dép/ Nghe ngọn gió nào cùng như gió Nha Trang/ Tôi ngoảnh lại/ Tuy Hòa rung mềm mại/ Tuy Hòa vui trong  gió thổi/ Lúc bấy giờ/ Lúc ấy/ Hỡi Nha Trang – (Thành phố nghiêng mình)

Sau hơn hai tháng rõng rã hành quân tiếp trên Trường Sơn, vượt những con đường được coi là “cửa tử” 19 và 21, đến chiến khu Khánh Hòa, Mai không ở trên căn cứ, mà lặn lội về ngay với anh em đặc công nước 407 trên Hòn Rồng Cam Ranh, về với các đồng chí lãnh đạo Thành ủy Nha Trang cùng nằm hầm ở làng vùng ven Phú Ân Nam để mau được gần với Nha Trang yêu mến.

Từ Cực Nam, từ chiến trường Nha Trang Khánh Hoà, những bài thơ của Trần Vũ Mai bắt đầu vang lên khắp đất nước qua sóng của đài TNVN và đài Phát thanh Giải phóng:

Cực Nam/ Gió chướng ngang trời/ Gió từ Phan Rang ngược lên Đắc Lắc/ Đường xuyên sơn hẳm dốc/ Gió quầng vang trảng trăng thu/ Một lối rẽ bất ngờ/ Bạn đi Phan Thiết…(Cực Nam)

Lúc bấy giờ/ Tôi vẫn sống, em vừa ngã xuống/ Tôi nhìn trời có nghĩa gì đâu/ Đôi cuộn mây hồng hay ánh trăng sao/ Em thường nói rồi chúng mình trẻ mãi/ Tôi cầm khẩu súng em lắng nghe lần cuối/ Đêm vượt đường, chim lại hót cho em.- (Thành phố nghiêng mình)

Với Những người đã lớn, Cực Nam, Thành phố nghiêng mình và sau này là trường ca Ở làng Phước Hậu, thơ Trần Vũ Mai là khúc tráng ca của thế hệ đi giải phóng và thống nhất đất nước. Trong thơ anh, hiện thực cuộc sống chiến đấu hiện lên gồ ghề trần trụi như nó vốn có. Ở đó, sự hào hùng đan xen nỗi bi thương. Ở đó hy vọng, niềm tin thực sự ánh lên từ máu lửa, từ những gian truân đau đớn tột cùng. Ở đó, không có chỗ trong những uốn éo, đồng bóng rẻ tiền, không có chỗ cho những trò chơi ngôn ngữ nhạt nhẽo. Từ những điểm nóng của cuộc chiến đấu, đối diện thường nhật lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết, sự dũng cảm và cái đớn hèn, người trung thực và kẻ giả dối… hiểu rõ cái giá phải trả của mỗi chiến công, mỗi thắng lợi, thơ Trần Vũ Mai đã chạm được đến mạch sâu tinh thần của những người đang cầm súng vì sự tồn vong của dân tộc:

Vâng buổi đó lòng anh trong trắng lắm/ Trời xanh hơn, sông rộng lớn lao hơn/ Người khát vọng đi tìm mật uống/ Đã tìm ra tình Tổ quốc máu hồng/ Khoảng khắc gió bừng lên giữa ngực/ Đã tới rồi chiến trận gớm ghê sao/ Ôi Tổ quốc, trước Người con mãi thế/ Để đẹp hơn trời biếc trên đầu…/ Nhưng hồng hào trong veo màu tốt đẹp/ Yên ổn trong lòng không vườn bận điều chi/ Ơi lá thư đã đến rừng săng lẻ/ Còn thấm chăng giọng tiếng bạn ta thề –(Ở làng Phước Hậu)

Nha Trang giải phóng. Cùng những cánh quân của sư đoàn 968, Trần Vũ Mai đã có mặt ở Nha Trang từ những ngày đầu tháng 4.1975.

Lúc bấy giờ/ Nha Trang/ Những người phá thành vây đã tới/ Nha Trang nghiêng mình/ Manh áo Mỹ bạc màu rơi xuống biển/ Những em gái cầm chổi ra đường/ Hốt rác đầy mũ lính/ Thành phố hiện ra cùng ánh cờ sao – (Thành phố nghiêng mình)

Sách “Từ một lời dặn của bác” (NXB Sân khấu) của Nguyễn Thế Khoa

Khó có thể diễn tả được niềm vui của Trần Vũ Mai khi được đặt chân lên những con đường Nha Trang mơ ước của anh. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh anh cùng các bạn bè văn học nội thành Lê Văn Ngăn, Thế Vũ, Nguyễn Hoàng Thu… dắt nhau dung dăng trên đường biển Trần Phú như những đứa trẻ thơ, vừa đi vừa hát thật to bài hát Giải phóng miền Nam. Đó là những ngày tuyệt đẹp trong trí nhớ của tuổi chúng tôi. Đến được với giấc mơ của mình, Trần Vũ Mai đã sống thật hết mình, thật trọn vẹn với Nha Trang. Tôi cũng vì thích anh và mê Nha Trang nên đã không ở lại Đà Nẵng hay về Quy Nhơn quê hương mà đã theo anh về với Nha Trang – Khánh Hoà. Anh đã giới thiệu Thanh Hồ, Thế Vũ, Trần Huyền Ân, Nguyễn Âu Hồng, Nguyễn Hoàng Thu, Lê Văn Ngăn… vào những cơ quan văn hoá văn nghệ cách mạng. Anh chủ biên tuyển tập thơ Phú Khánh đầu tiên, sáng lập tờ Văn nghệ Phú Khánh. Anh thu hút mọi người bằng tài năng và nhiệt huyết của mình. Nhiều người dân Nha Trang yêu tài mến tình anh đã họp vào với anh em văn nghệ. Có vẻ như Trần Vũ Mai đã chuẩn bị cho một cuộc sống ổn định lâu dài với Nha Trang. Anh đã đưa người bạn gái của anh, một cô gái Sài Gòn mới thương nhau  từ những ngày đầu Sài Gòn giải phóng về với căn hộ nhỏ của anh ở chung cư chợ Đầm. Em gái và em rể anh cũng đã vào Học viện Không quân. Anh chuẩn bị đưa mẹ và đón cha từ chiến trường Lào vào đoàn tụ tại Nha Trang của anh. Sau truyện ngắn xuất sắc Bậc biển Mai đã chuẩn bị rất kỹ càng cho những cuốn tiểu thuyết về tiểu đoàn đặc công nước 407, về nhà giáo liệt sĩ Nguyễn Thị Ngọc Oanh ở thị trấn Ninh Hòa…

Nhưng  rồi cuộc chia tay định mệnh đã đến…

Chúng tôi thật sự hết sức bất ngờ khi biết anh quyết định từ biệt Nha Trang về lại Hà Nội. Dù biết anh vừa trải qua những chuyện riêng rất đau lòng, chúng tôi tin vào ý chí và nghị lực của anh.

Hoạ sĩ Thanh Hồ vẫn thường nói: “Trần Vũ Mai không thể sống thiếu Nha Trang, Nha Trang cũng không thể thiếu Trần Vũ Mai”.

Nhưng Trần Vũ Mai đã quyết tâm dứt áo ra đi, trở lại Hà Nội. Và đó quả là một cuộc chia tay định mệnh.

Sau này, chúng tôi mới hiểu bên trong khuôn mặt chữ điền cương nghị của anh, bên trong con người hết sức dũng cảm và sắt đá của anh, một hình ảnh tuyệt đẹp thời chiến tranh của chúng tôi, là một trái tim yếu đuối và nhạy cảm. Anh về lại Hà Nội, là một biên tập viên có uy tín hàng đầu của Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Anh vẫn làm thơ – dù không công bố nữa. Sau khi anh mất, được đọc thơ anh giai đoạn này, người ta mới biết Trần Vũ Mai vẫn đang âm thầm tìm kiếm, trong sự cô đơn, trong nỗi thất vọng mênh mông, một lối đi riêng trong thơ, rất độc đáo, rất hiện đại. Đó là những bài thơ sâu thẳm nỗi đau của người đã từng qua những thử thách lớn, những mất mát lớn nhưng vẫn tin yêu trong trẻo lạ lùng:

Nào hãy tới đây, nào em, sao vậy/ Lá đổ vàng cháy cả chân em/ Tình yêu nào thiếu nỗi niềm thiếu nữ/ Giấc ngủ tôi che mái tóc buông rèm.- (Không đề)

Những người lính khoác ba lô trên đất nước/ Gian khổ vui lòng đem ấm áp cùng chia/ Chúng ta biết nói gì nữa nhỉ/ Vâng, Hà Nội tuyệt vời và hơn thế/ Anh tin đi dù chỉ ở một lần –(Vâng, Hà Nội)

Tuy vậy, mọi cái dường như đã trở nên bất ổn. Suốt ngày anh lanh thang khắp các quán rượu Hà Thành. Đôi mắt anh ngơ ngác mệt mỏi. Gặp anh ở Hà Nội, lúc nào tôi cũng thấy anh, cũng như thơ anh, cô đơn, lạc lõng vô cùng giữa chốn phồn hoa đô hội:

Xuân/ quá chừng quả đấm/ Ngay sau gáy phảng phất gió nặng dần – (Mùa xuân nuối tiếc)

Có lẽ anh ngột ngạt, bế tắc vì thiếu “bầu trời xanh thẳm Cực Nam”, thiếu tiếng “sóng vẫn đập vào eo biển” (thơ Lê Văn Ngăn) nôn nao thuở nào của anh chăng? Bởi vì, tuy sống giữa Hà Nội, Trần Vũ Mai vẫn không ngừng bị một Nha Trang cao xanh, lộng gió ám ảnh:

Chúng ta tới buổi chiều hè thứ nhất/ Nón trắng bừng, sóng chùng lại Hồ Gươm/ Các cô gái tươi cười nóng nôi nồng nhiệt/ Áo choàng bay như thể bỏ quên/ Những lá lá bay trên đá lát/ Vâng, Hà Nội cao vần lên xanh nhạt/ Cũng như trời mây lộng gió Nha Trang – (Vâng, Hà Nội)

Xa Nha Trang, nhưng Trần Vũ Mai vẫn hết lòng hết sức với Nha Trang khi có dịp. Tôi nhớ một kỷ niệm vui. Vào giữa những năm 1980, tôi ra Hà Nội họp cùng với nhà thơ Văn Công, khi ấy là thường vụ tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Phú Khánh. Biết Phú Khánh đang khó khăn trong việc tìm nhân sự lãnh đạo Hội VHNT, Trần Vũ Mai rất nhiệt tình giới thiệu hai nhà thơ Đào Xuân Quý và Nguyên Hồ, vốn người gốc Khánh Hòa và Phú Yên, đang công tác ở Hà Nội, với nhà thơ Văn Công. Với chiếc xe đạp mini cà tàng, Trần Vũ Mai đã nhiều lần đạp xe chở nhà thơ Văn Công, vốn là một người rất yêu mến anh thời cùng sống trên vùng chiến khu Phú Yên, đến thăm để vận động thuyết phục hai nhà thơ lão thành về giúp quê hương. Có lần, vì xe tuột xích và cũng vì đang ngà ngà say, Trần Vũ Mai đã quẳng ông Phó Chủ tịch tỉnh kiêm nhà thơ xuống lòng đường Chu Văn An, ngay trước Nhà khách Chính phủ…

Hiểu tấm lòng anh, lãnh đạo tỉnh Phú Khánh và Hội VHNT nhiều lần nhắn mời Trần Vũ Mai về lại Nha Trang thăm anh em, nghỉ ngơi và viết. Anh có về một hai lần nhưng mỗi lần cũng chỉ ở một hai ngày rồi vội vã ra đi như trốn chạy chính mình. Vì sao thế, anh Mai?

Lần cuối cùng, tôi gặp Trần Vũ Mai là vào mùa hè 1990. Lúc này trông anh xác xơ, tiều tuỵ, giọng nói yếu hẳn, tay run lẩy bẩy. Rượu làm anh chếnh choáng suốt ngày, nhưng khi nhắc đến Nha Trang anh như tỉnh hẳn ra. Như mọi lần, anh lại hỏi thăm về Nha Trang thật cụ thể, chân thành. Anh lại đọc cho chúng tôi nghe những câu thơ tuyệt đẹp về Cực Nam, về làng Phước Hậu, về Nha Trang của mình:

Nhớ sao giọt sáng trời xanh/ Nghe chừng Phước Hậu lá cành bên môi/ Nghe chừng nhẹ thoáng mưa rơi/ Căn hầm thứ nhất của người vượt đêm/ Và mưa vuốt mặt cuối thềm/ Mẹ ngồi vắt áo dịu hiền, ngó xa/ Áo vừa khô lại mưa qua/ Rồi vai dần thấm lệ nhòa mẹ tôi…/ Tôi nhớ những ngày tôi sống/ Tôi nhớ bầu trời Cực Nam lồng lộng/ Có một phần xanh thắm cho anh/ Xanh thắm mãi không ngừng

Ôi nỗi nhớ lây lòng chi lạ/ Thấm dần và nảy nở…(Ở làng Phước Hậu)

Lúc đó, tôi đã linh cảm một điều chẳng lành: Trần Vũ Mai đã như một ngọn nến sắp cháy đến những giọt cuối cùng.

Một năm sau, từ Nha Trang, chúng tôi nhận được tin anh từ trần trong dòng nước lạnh dưới đáy hồ Nghĩa Đô, giữa một ngày đông giá buốt tháng giêng 1991, lúc mới 47 tuổi.

Đã dũng cảm vượt qua được những thử thách nghiêm khắc và khốc liệt nhất của chiến tranh, nhưng không vượt qua được những đổ vỡ, trái ngang, oan nghiệt của đời thường, có vẻ như Trần Vũ Mai đã tự chọn cho mình một kết cục như vậy, như “những con rồng bay đến hết độ bay, chỉ còn nước rơi xuống chết” (Nguyễn Thụy Kha). Cuộc đời và cái chết của Trần Vũ Mai là một bi kịch bí ẩn của đời sống văn học sau chiến tranh.

Riêng tôi, tôi vẫn nghĩ, không biết là có đơn giản quá chăng, bi kịch đó có thể đã không xảy ra, nếu ngày đó Trần Vũ Mai đừng quyết định rời bỏ Nha Trang, rời bỏ mảnh đất Cực Nam yêu dấu của anh.

Có phải thế không, anh Mai?

NGUYỄN THẾ KHOA



Tin tức khác

· NHỚ HOÀNG TRẦN CƯƠNG LẠI NGHĨ VỀ TRƯỜNG CA 'LONG MẠCH'
· CHUYỆN THÊM VỀ ÔNG HOÀNG BẢO ĐẠI
· THÁI BÁ LỢI - TỪ QUÂN Y SĨ ĐẾN NHÀ VĂN
· NGƯỜI ĐI TIM 'BỤI ĐỎ' ĐÃ HÓA THÂN VÀO 'CÁT BỤI' PHẬN NGƯỜI - Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH
· DỐC IM LẶNG - THƠ CỦA MỘT HỌA SĨ - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· BẮT GẶP HAI VIÊN SỎI QUÝ VÙNG THẤT SƠN
· HỒ SƠ MẬT CỦA PHÁP NÓI GÌ VỀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ CỦA VIỆT NAM?
· VỊ ĐÌNH NGUYÊN CUỐI CÙNG TRONG LỊCH SỬ KHOA BẢNG VIỆT NAM LÀ AI?
· VỀ LẠI GA XÉP
· MIỀN BẮC VIỆT NAM THẾ KỶ XIX QUA ỐNG KÍNH CỦA BÁC SĨ QUÂN Y NGƯỜI PHÁP
· BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM GIỮA CUỘC ĐỜI
· THƠ NAM THANH - LAN TỎA TỪ TĨNH LẶNG - Tiểu luận HỒ THẾ HÀ
· DẤU ẤN CỦA THỦ LĨNH ĐỘI CẤN VÀ KHỞI NGHĨA THÁI NGUYÊN TỪ 6 BÀI THƠ CỦA NGÔ ĐỨC KẾ -Tiểu luận PHÙNG VĂN KHAI
· TRỊNH CÔNG SƠN VÀ SỰ HIỆN HỮU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN NGHỆ MIỀN NAM 1954 - 1975 -Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH
· NHỮNG NGỌN ĐÈO THẮP SÁNG THƠ CA - Tiểu luận NGUYỄN VŨ TIỀM
· CHO NGÀY 30 THÁNG 4 - CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ
· GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG LÀ GIỖ VỊ VUA NÀO?
· MỘT ĐÊM MƯA ẤM VỚI NHÀ THƠ HOÀI VŨ
· ĐÃ ĐẾN LÚC ĐƯA DANH NHÂN NGUYỄN QUANG BÍCH RA THẾ GIỚI
· NGUYỄN THÁI HẢI - KHÔI VŨ: NGƯỜI LẮNG NGHE TIẾNG NÓI NỘI TÂM

Tin tức mới
♦ CHÙM THƠ TRẦN HOÀNG VŨ NGUYÊN - EM NHƯ MẶT TRỜI CỦA NÚI TỰ GIẤU ĐI (14/05/2026)
♦ NHỚ HOÀNG TRẦN CƯƠNG LẠI NGHĨ VỀ TRƯỜNG CA 'LONG MẠCH' (14/05/2026)
♦ CHUYỆN THÊM VỀ ÔNG HOÀNG BẢO ĐẠI (14/05/2026)
♦ THÁI BÁ LỢI - TỪ QUÂN Y SĨ ĐẾN NHÀ VĂN (14/05/2026)
♦ NGƯỜI ĐI TIM 'BỤI ĐỎ' ĐÃ HÓA THÂN VÀO 'CÁT BỤI' PHẬN NGƯỜI - Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH (11/05/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2030616
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 103780
Truc tuyen Trực tuyến: 5

...

...

Designed by VietNetNam