TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
CẦN VINH DANH NGƯỜI CÓ CÔNG ĐẶT NỀN MÓNG ĐÀNG TRONG
CẦN VINH DANH NGƯỜI CÓ CÔNG ĐẶT NỀN MÓNG ĐÀNG TRONG
TỪ: Vanvn- Cập nhật ngày: 30 Tháng mười một, 2025 lúc 11:20
Thêm nhiều thông tin gây bất ngờ
Trong tham luận gửi đến hội thảo khoa học Mạc Cảnh Huống (1542-1677) và dòng họ Mạc vùng Thuận Quảng (1558-1945) do Hội Khoa học lịch sử TP. Đà Nẵng tổ chức vào hôm qua 23.11, Th.S Nguyễn Thị Huệ, Viện Nghiên cứu văn hóa – Viện Hàn lâm KHXH VN, cho biết trong biên niên sử VN, Mạc Cảnh Huống nổi bật với một xuất thân hiển hách. Sử sách triều Nguyễn ghi nhận ông như một trong những công thần khai quốc của nhà Nguyễn trên vùng đất Thuận Hóa. Tương truyền, nhờ chuyên tâm tu tập thiền định mà Mạc Cảnh Huống đã hưởng thọ trên 1 thế kỷ.
Hội thảo đầu tiên về họ Mạc thu hút nhiều chuyên gia, nhà sử học… Ảnh: Hoàng Sơn
TS Lưu Anh Rô gợi mở thông tin mới và đề nghị các nhà khoa học lịch sử vào cuộc nghiên cứu; Ảnh: Hoàng Sơn
Theo Th.S Nguyễn Thị Huệ, Mạc Cảnh Huống tên húy là Lịch, thân sinh là Thái Tông Mạc Đăng Doanh. Ông là con út của Thái Tông và thứ phi Đậu Thị Giang, thứ tự sau Hiển Tông Mạc Phúc Hải, Ninh vương Mạc Phúc Tư, Khiêm vương Mạc Kính Điển và Ứng vương Mạc Đôn Nhượng. Dựa theo phả hệ của một chi họ Mạc (về sau đổi thành Nguyễn Trường dưới triều Tây Sơn) tại làng Trà Kiệu (xã Duy Sơn, H.Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cũ), Mạc Cảnh Huống đã dẫn gia quyến di cư vào Thuận Hóa năm 1568, đi theo phò tá Nguyễn Hoàng.
“Từ một hoàng tử không được trọng dụng, ông đã trở thành nhà chiến lược tài ba cho công cuộc Nam tiến, đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của Đàng Trong. Những đóng góp này góp phần quan trọng vào sự ổn định và thịnh vượng của một vương triều kéo dài gần 4 thế kỷ, minh chứng cho sự vĩ đại của một con người vượt lên trên hoàn cảnh”, Th.S Nguyễn Thị Huệ phân tích.
Văn bản Hán tự do TS Lưu Anh Rô cung cấp, Ảnh: Hoàng Sơn
TS Lưu Anh Rô, Phó chủ tịch thường trực, Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử TP. Đà Nẵng, cho rằng việc xác lập lại phả hệ và hành trạng của danh thần Mạc Cảnh Huống là yêu cầu khoa học đồng thời cũng là trách nhiệm với tiến trình mở cõi của dân tộc. Dẫn chứng về gia phả Hán văn tiếp cận được, ông Rô khẳng định Mạc Cảnh Huống là con của Mạc Phúc Hải chứ không phải là con của Mạc Đăng Doanh. Theo ông, gia phả ghi rõ 3 người con của Mạc Phúc Hải gồm Mạc Hoằng Ninh, Mạc Kính Điển và Thống thủ thái phó Mạc Cảnh Huống.
Đáng chú ý, từ các tư liệu lịch sử, TS Lưu Anh Rô cho rằng việc gán cố định danh tính “Nguyễn Ư Dĩ” cho pho tượng “Thái phó” (bằng đồng, nặng 300 kg) ở Trà Liên (Quảng Trị) là chưa thuyết phục. Theo ông, một giả thuyết khả dĩ và cần được nghiên cứu chuyên sâu hơn là pho tượng nhiều khả năng liên quan đến nhân vật thuộc dòng Mạc, cụ thể là Mạc Cảnh Huống, người cùng cháu mình là Mạc Thị Giai từng hiện diện ở Cổ Trai, Trà Liên, Ái Tử trong thời gian dài và có ảnh hưởng lớn đến các chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên, nhất là có tầm ảnh hưởng đến Phật giáo và thờ tự ở vùng này.
“Chúng tôi đề xuất rằng những dữ kiện hiện có đủ để coi giả thuyết “pho tượng Trà Liên liên quan đến Mạc Cảnh Huống và truyền thống đúc tượng cho vua và các thân vương nhà Mạc” là một hướng nghiên cứu khả tín, đáng được các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý di tích Quảng Trị tiếp tục nghiên cứu thêm bằng các phương pháp liên ngành (sử học, khảo cổ, mỹ thuật…). Chúng tôi mong muốn mở ra một cuộc điều tra khoa học, nghiêm túc về tượng “Thái phó” thay vì đóng khung câu chuyện chỉ bằng truyền khẩu hoặc cảm tính mơ hồ”, ông Rô nói.
TS Lưu Anh Rô cung cấp thêm nhiều tài liệu chứng minh Mạc Cảnh Huống là con của Mạc Phúc Hải, Ảnh: Hoàng Sơn
Kiến nghị đặt tên đường, “Thăng” danh hiệu di tích
Theo TS Lưu Anh Rô, dựa trên các dữ liệu phả hệ, niên đại và hành trạng sẽ được minh định trong các nghiên cứu mới trong thời gian tới là cơ sở quan trọng nhằm hoàn thiện hồ sơ khoa học để kiến nghị công nhận di tích cấp quốc gia đối với khu lăng mộ Mạc Cảnh Huống ở chân núi Non Trượt (H.Duy Xuyên, Quảng Nam cũ; được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh từ năm 2018). Đây sẽ là bước quan trọng để tôn vinh vai trò của Mạc Cảnh Huống trong tiến trình khai phá vùng đất phía nam. TS Rô cũng kiến nghị đặt tên đường cho các danh nhân họ Mạc, như Mạc Cảnh Huống, Mạc Thị Giai… tại TP. Đà Nẵng, TP. Huế và tỉnh Quảng Trị.
PGS-TS Đỗ Bang đề nghị nên tổ chức hội thảo cấp quốc gia vào năm 2027 nhân 500 năm lập vương triều Mạc, Ảnh: Hoàng Sơn
TS Phan Đăng Long, Phó chủ tịch Hội Sử học Hà Nội, kiến nghị cần bảo tồn, tôn vinh di sản dòng họ Mạc một cách xứng tầm. Theo đó, tăng cường công tác bảo tồn và trùng tu các di tích liên quan đến dòng họ Mạc tại Đà Nẵng như: lăng mộ Mạc Thống thủ, lăng mộ Hiếu văn Hoàng hậu Mạc Thị Giai, từ đường dòng họ Nguyễn Trường, mộ Bình Hương xử sĩ Mạc Trường Thành… “Để ghi nhận công lao của các nhân vật họ Mạc trong tiến trình khai mở vùng Thuận Quảng, cần xem xét đặt tên đường, công trình công cộng tại Đà Nẵng, Huế và Quảng Trị là những nơi gắn với cuộc đời và sự nghiệp của các nhân vật này”, ông Long nói.
Theo ông Long, các giá trị về tinh thần khoan hòa, trung nghĩa, đạo đức và tài năng của những nhân vật như Mạc Cảnh Huống, Mạc Trường Thành… cần được đưa vào các hoạt động giáo dục, văn hóa cộng đồng.
PGS-TS Đỗ Bang, Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN, nhận định hội thảo đã giúp nhận diện rõ hơn vai trò của họ Mạc trong lịch sử. Ông Bang đề xuất: “Trong 2 năm tới (năm 2027) nên tổ chức hội thảo nhân kỷ niệm 500 năm vương triều Mạc và họ Mạc tại VN. Đại diện Mạc tộc có thể phối hợp đề xuất và tổ chức hội thảo quy mô lớn, nhằm làm rõ và tôn vinh vai trò lịch sử của dòng họ này”.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.