TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
CAO NGUYÊN TRONG THƠ NGUYỄN THANH MỪNG
CAO NGUYÊN TRONG THƠ NGUYỄN THANH MỪNG
NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 7 Tháng 9, 2026 lúc 14:49
Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng (Bình Định – Gia Lai)
Thật thú vị, ở tuổi lục tuần, nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng chợt bùng lên những câu lục bát mang giọng điệu ngây ngất tầng mây, thấm cảnh sắc núi rừng, sử thi đại ngàn: “Lưỡi rìu đá triệu mùa xuân/ Níu An Khê lại châu tuần năm châu/ Ngút ngàn gió Á mưa Âu/ Khói sương tiền sử bắc cầu tinh mơ” (Bên địa tầng sơ kỳ Đá cũ An Khê); “Dầm chân mưa gió cao nguyên/ Anh thành lau sậy bản quyền hoang sơ/ Nghe con cá nhét Pô Kô/ Nói cùng cà đắng bên bờ Sê San” (Thổ cẩm Tây Nguyên). Và đây nữa:
“Triệu năm trước lửa thét gào
Nên giờ giọng núi vẫn hào sảng riêng
Một ngôn từ đẫm Tây Nguyên
Rễ cuồng phóng rễ gừng điên dại gừng”
(Núi lửa Chư Đăng Ya)
Nguyễn Thanh Mừng đi mê mải trong địa tầng xứ sở chinh chiêng, rừng già, voi phục. Ông tìm về bản thể hoang sơ trinh nguyên của thiên nhiên muôn đời lộng lẫy. Tìm đến trong nhịp điệu khoan hòa nhựa sống của một Tây Nguyên rừng rực thanh xuân.
Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng (trái) và nhà thơ Lê Văn Ngăn trong một lần leo núi. Ảnh: Đức Tuấn
Lục bát Nguyễn Thanh Mừng như tìm thêm cơn cớ để tung tẩy thăng hoa cùng cao nguyên muôn sắc: “Bạc đầu, chữ nghĩa đèo bòng/Bền câu lau sậy đong dòng gõ lim/Nụ hôn đá nổi mây chìm/Nghe tan lắng giữa im lìm kiêu sa” (Mùa xuân, về lại rừng cam Nghĩa Sĩ); “Ngẩn ngơ theo mắt hươu nai/Nhìn rừng già thấy lộc đài trẻ trung/Thấy măng non giữa tre lùng/Tình anh hoang dã hóa nhung trong đầu” (Thác Chín tầng ở Tây Nguyên). Vậy rồi nhà thơ:
“Nhét ba lô cả dốc đèo
Nhà rông chín bậc thác reo chín tầng
Tìm trong bóng lửa linh thần
Nước non bản mệnh quây quần hổ voi”
(Gia Lai một hai ba).
Núi lửa Chư Đăng Ya (huyện Chư Păh) đã đi vào thơ của tác giả Nguyễn Thanh Mừng. Ảnh: Phạm Quý
Cảm thức núi-biển như âm với dương cũng hiện hữu đầy đặn trong thơ Nguyễn Thanh Mừng:
“Gốc duyên hải bén cao nguyên
Núi cầm tay biển mà nên ngọt lành
Củ khoai trút áo vô danh
Bao nhiêu nước lửa để thành tuổi tên”
(Khoai lang Lệ Cần)
Hay đây nữa:
“Người từ duyên hải ngập ngừng/Lên rừng nghe rót núi rừng vào ly/Ngày con nhạn biển thiên di/In dòng nhật ký dưới vì sao ngông (…)/Cao nguyên ghềnh thác trập trùng/Ngất ngây môi mắt bập bùng tóc râu/Non cao thắt ruột biển sâu/Ly cà phê cũng trong nhau lở bồi” (Ly cà phê cao nguyên);
“Bao nhiêu núi lẻ Trường Sơn/Như bầy chim nhỏ lượn vờn ra khơi/Cù lao dụi mắt biển trời/Một thềm lục địa ngút hơi đất liền” (Từ cao nguyên về duyên hải)…
Đất và người Tây Nguyên như thêm nồng nàn tươi mới trong hồn thơ xứ biển Nguyễn Thanh Mừng. Có thể nói, đó là một cốt tình duyên hải cao nguyên.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.