TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Thi hữu
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM - KỲ 2. ĐẦM ÔNG HOÀNH VÀ ĐẬP TRÀ TÂY - Hồi ức MAI BÁ ẤN
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM - KỲ 2. ĐẦM ÔNG HOÀNH VÀ ĐẬP TRÀ TÂY - Hồi ức MAI BÁ ẤN
- Hồi ức MAI BÁ ẤN
Dọc theo dòng chảy Sông Trầu có nhiều con đập. Nếu tính dòng chính lưu từ đỉnh Hòn Rơm chạy xuống theo thứ tự từ thượng nguồn thì đầu tiên là Đập Phú Quý - nằm giữa thôn Trung Chánh (Thôn 5) và xóm Gò Gai thôn Phú Quý (Thôn 3). Chảy xuống thôn Trung Thành (Thôn 4) thì chia làm 2 nhánh với hai con đập nhỏ: Nhánh qua cầu Quan thì có Đập Ông Khương, nhánh qua cầu Hào có đập Bà Nang.
Sở dĩ tôi nhập cái đầm và côn đập này vào một chuyện vì từ khi xây đập bê tông kiên cố thì cái đầm của cha tôi và con đập đã nhập làm một. Cái bờ đầm phía Tây trở thành đầu phía Nam của con đập bê tông ngăn ngang sông Trầu.
Đầm Ông Hoành và Đập Trà Tây nằm ngay trên bến sông Trầu này (cách khoảng gần 1 km). Ảnh: Lê Huân
Xuống dưới Xóm Lưới (Phú Quý 1 – nay là Phú Quý 3) là Đập Vân Trai (tưới cho cánh đồng Vân Trai bên tả ngạn thuộc xã Kỳ Khương (Tam Hiệp). Rồi đến Đập Trà Tây ngay trên Khu vườn nhà cũ thứ 1 đời ông cố tôi. Còn nếu tính thêm các phụ lưu từ núi Răng Cưa đổ ra Sông Trầu mang dạng Hồ Chứa nước, thì đầu tiên trên thượng nguồn là Đập Đồng Nhơn thuộc thôn Tịnh Sơn (Thôn tám), rồi đến Đập Bàu Vang (ngăn nước Hố Tràu) thuộc thôn Thạnh Mỹ (Thôn 6), tiếp đến là Đập Hố Cái (ngăn nước Hố Cái) thuộc thôn Đa Phú (Thôn 2).
Như đã nói, nơi ở đầu tiên của tổ tiên lúc mới khai cơ anh em chúng tôi không còn biết được. Chỉ biết khoảng đời ông cố chúng tôi (đời thứ 4) thì nhà ở ngay hữu ngạn Sông Trầu. Ngoài khu vườn nhà, còn có cả một cái đầm rộng ngay dưới chân Đập Trà Tây. Gọi là Đập Trà Tây vì nước của đập này phục vụ cho cánh đồng ở thôn Trà Tây, nhưng vị trí của đập lại nằm trên đất thôn Phú Quý. Qua hỏi các người già thì đập được đắp bằng đất từ thời Ngô Đình Diệm (!). Vì đắp đất nên đến mùa lũ là vỡ đập, phải đắp đi đắp lại hàng năm. Chính vì thế, có thời gian trước 1975, đập bị bỏ không còn đắp, nước mặn từ Cửa An Hòa theo sông Bến Ván lấn lên giáp tới Đập Vân Trai. Sau 1975, hòa bình, Hợp tác xã huy động đắp lại đập đất. Đến năm 1989 thì chính thức xây đập bê tông kiên cố đến hiện nay. Và cũng từ đó, Đập Vân Trai cùng ăn theo nguồn nước Đập Trà Tây, không cần phải đắp hàng năm như trước.
Cầu Nguyễn Phùng, trong ảnh: phía trên là khu vườn rậm bên trái là Khu nhà vườn đời ông cố tôi ở, Chòm dừa nước bên trên mé vườn còn sót lại chính là bờ phía đông Đầm Ông Hoành (cha tôi). Bên phải phía trên chòm dừ nước là Đập Trà Tây (Ảnh: Lê Huân)
Cái đầm của họ nhà tôi do chính Cha tôi gầy dựng (nên dân quen gọi là Đầm/ Đìa Ông Hoành) nằm phía Tây Bắc của Khu vườn nhà thứ 1, được vây quanh bằng một bờ đất dày kiên cố trên đó trồng các loại cây rậm như một cánh rừng (khoảng chừng 4, 5 mét ngang) để chống xói lở. Con mương dẫn nước ngọt của đập, chạy ngay phía dưới Vườn Miễu - Xóm Chợ, thẳng vào phía Nam đến ruộng Bàu Đá, góc Tây Nam Vườn/ Rừng Bà Kiệt thì cua xuống phía Đông, ngang qua Chùa Phú Sơn, chảy men xuống Vườn Trong (Vườn Bà Thơ, Ông Tỉnh, Ông Năm Thường…), thẳng về Đồng Cầu Hoán, phía Đông Nam thôn Trà Tây. Khi chưa đắp đập Trà Tây thì bến sông Trầu nằm ở Vũng Bớm (vì nhiều cây gai Bớm với câu Tục ngữ nổi tiếng “Gai Bớm thì què, gai Tre thì nhức”) phía Tây của cái đầm nhà tôi. Khi đắp đập thì ghe thuyền không thể lên bến cũ, mà từ bến cũ mở một tuyến mương dẫn nước ngọt chảy xuống trước Chùa Tiền Nhơn nên gọi Vũng Chùa, bao quanh qua phía Nam cái đầm nhà tôi rồi chảy thẳng xuống hướng Đông sát khu vườn nhà ông cố tôi bên hữu ngạn sông Trầu để đưa nước xuống gò Bà Đề, xuống cống Bà Liên theo hướng Đông về đồng Gò Xoài rồi ngoặc sang hướng Đông Nam qua đồng Vũng Dừa và Đồng Bàu Sác chua mặn phía thôn Trà Tây. Nhưng sau đó, mương dẫn nước quá gần bờ sông nên xói lở thường xuyên. Vậy là phải bỏ con mương cũ phía Bắc của vườn nhà ông cố tôi) rồi đắp bờ đất nối từ rìa Bắc vườn bà Năng (trước chùa Tiền Nhơn) sang phía Nam bờ đầm ông cố tôi để ngăn dòng chảy xuống phía Đông. Rồi ngay trên bờ đất này (sau gọi là Vũng Chùa), đào một con mương mới ngoặc vô phía Nam mé Tây vườn bà Năng, ngay sát mé Bắc vườn chùa Tiền Nhơn (đối diện với Chùa) rồi chảy thẳng xuống phía Đông ngay mép phía Nam khu vườn nhà ông cố tôi, băng xuống đến phía Nam gò Bà Đề thì nhập lại vào con mương cũ chảy xuống cống Bà Liên về đồng Gò Xoài. Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1989, Đập Trà Tây được xây kiên cố bằng bê tông, lại đào mới một con mương thứ ba. Con mương này nằm phía Nam nhà thờ tộc Mai của tôi hiện nay, chạy chếch xuống phía Đông Nam bên trong Vườn Ấm (khu vườn nhà thứ hai đời ông nội tôi) để chảy thẳng về Đồng Bàu Sác (nằm giữa Rừng Lăng xóm Dưới phía Bắc và Gò Ông May phía Nam) thuộc thôn Trà Tây.
Như vậy, cho đến nay, Đập Trà Tây chính thức còn ba con mương dẫn nước về phía Đông và Đông Nam chạy gần như song song nhau, mỗi mương cách nhau khoảng 1 cây số. Tính từ phía Nam ra theo thứ tự là: Con mương chính từ Vườn Miễu chạy vào phía Nam qua phía đông Xóm Chợ đến Vườn/ Rừng Bà Kiệt thì cua xuống phía Đông, chảy ngang trước mặt Chùa Phú Sơn đưa nước về Đồng Cầu Hoán và ruộng chua mặn phía Nam Đông Nam thôn Trà Tây. Con mương thứ hai chảy bên sát phía Nam nhà thờ họ của tôi hiện nay, qua Gò Sớ, Đồng Bé, chạy thẳng xuống mé phía Nam vườn Ấm, Gò Đốt (Khu vườn nhà thứ 2 của tổ tiên tôi), đưa nước xuống Đồng Bàu Sác thuộc thôn Trà Tây. Và con mương thứ ba gần sông Trầu nhất, chảy trước Chùa Tiền Nhơn bên rìa phía Nam Khu vườn nhà thứ 1 của tổ tiên tôi, xuống Gò Bà Đề như đã nói.
Phía Đông và Bắc cái đầm nhà tôi, giáp với bờ sông Trầu dưới chân đập Trà Tây để giữ bờ đầm nên trồng cả một cánh rừng Dừa nước. Mỗi mùa khai thác lá dừa, sau khi thu hoạch lá (tướt làm hai đem phơi khô để lợp nhà) thì phần bẹ dừa còn lại phải chặt bỏ để bẹ mới mọc ra thay thế. Bẹ dừa chặt bỏ ấy từ đầm thả trôi kín cả một khúc sông Trầu xuống cầu Bà Giày, rồi trôi xuôi về sông Bến Ván (An Tân) nhập vào dòng Trường Giang, ra cửa An Hòa, hòa vào biển Đông. Bên trong đầm, anh em tôi vừa canh tác cá tôm lại vừa xả nước ngọt đập Trà Tây qua Lỗ Thí để cấy lúa. Sau 1975 cả vườn và đầm đều trở thành đất Hợp tác xã. Khi xây dựng kiên cố đập Trà Tây thì khu đầm ruộng của nhà tôi dần dần bị phá đi và đến nay thì không còn dấu vết, chỉ trơ vơ lại ở phía Đông Bắc giáp hữu ngạn sông Trầu vài bụi dừa nước lơ thơ, dầm chân trong nước như một chứng nhân còn sót lại.
Nơi con đập này cũng gắn liền một kỷ niệm đáng nhớ của tuổi thơ tôi. Khoảng đầu những năm 70, trước năm 1975, có một thời gian con đập đất bị lở, những đoạn còn sót lại của con đập đất trở thành những cồn cây nhỏ bốn bề ngập nước. Một buổi chiều thằng Mười Anh em kế tôi chạy về báo là, thả trâu ăn ngoài đập mà đến chiều tìm mãi không thấy đàn trâu đâu cả. Lúc này, cha tôi đã mất, anh Hai bận đi trực gác. Vậy là mẹ tôi dẫn cả nhà, rồi cả xóm nghe tin cũng vận động nhau đi tìm giúp. Sở dĩ chỉ có đàn trâu nhà tôi đi lạc ra cồn vì cả Xóm Bến hầu hết là nuôi bò, chỉ duy nhất nhà tôi nuôi trâu vì từ đời ông nội về trước vốn nhiều ruộng, lại dân gốc ở đây. Đầu tiên phải lo đi tìm ở phía Đồng Năng, Đồng Nhà Lan và Đồng Hóc cũng như Đồng Gò Đồng bên kia Sông Trầu vì sợ trâu ăn, phá lúa ở các cánh đồng. Tìm mãi đến đêm vẫn không thấy tăm hơi đàn trâu, giờ chỉ còn duy nhất cái cồn đất nằm ở giữa khúc sông. Trời đã khuya, tối om, lạnh. Nhiều người còn đang do dự, tôi bèn tự nguyện bơi ra cồn. Và đúng là đàn trâu nhà tôi đang ở đó. Tôi cỡi trên lưng con trâu đực và bẽ nhánh Dương Liễu làm roi, lùa đàn trâu vào bờ. Sau lần đó, mẹ tôi thường bảo với mọi người: “Thằng đó ngó ốm yếu nhưng gan lắm!”.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.