TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Thi hữu
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 3. CẦU BÀ GIÀY -Hồi ức MAI BÁ ẤN
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 3. CẦU BÀ GIÀY -Hồi ức MAI BÁ ẤN
Hồi ức MAI BÁ ẤN
Sau khi đắp đập Trà Tây ngăn sông, ghe thuyền không còn lên xuống được, nên bến sông Trầu cũ ở Vũng Bớm không còn. Để phục vụ giao thương buôn bán, một bến sông mới ra đời, được gọi là Bến Thế (với ý nghĩa thay thế bến cũ) cách bến cũ khoảng gần 1 cây số về phía hạ lưu. Bến Thế nằm đối diện với nhà bà Giàu bên kia sông. Phương tiện đi lại qua sông để nối liền hai xã lúc ấy là những chuyến đò ngang nối Xóm Bến (quê nội tôi) bên hữu ngạn thuộc xã Kỳ Sanh (Tam Mỹ) với xóm Gò Đồng (quê ngoại tôi) bên tả ngạn thuộc xã Kỳ Khương/ Tam Hiệp (nay là xã Núi Thành).
Nhà Bà Giàu hiện nay. Ngay dưới gốc cây sanh chính là đầu bắc của Cầu Bà Giày cũ (Ảnh chụp từ đầu nam cầu Nguyễn Phùng hiện nay)
Sau này khi xây cầu nối hai bờ, đầu cầu phía Bắc (tả ngạn) nằm sít ngay phía dưới nhà bà Giàu. Phía tả ngạn, bên cạnh đường sông từ đường Quốc lộ 1 cầu Bến Ván (An Tân) ngược lên, còn có đường bộ nối với Quốc lộ 1 và đường sắt nên vật liệu xây cầu được tập kết phía đầu cầu phía Bắc, lán trại của công nhân xây cầu cũng nằm ở đó - bên cạnh nhà Bà Giàu, nên khi cầu xây xong gọi tên luôn là: “Cầu Bà Giàu”. Nhưng cũng như tính khí toàn toạt của đân Quảng, tiếng nói dân quê tôi không ưa uốn lưỡi, nên thường bỏ cách phát âm khó để nói cho nhanh (kiểu như “gạo” thành “gộ”, “ngoại” thành “ngụa” (quê tôi thì còn nói thẳng hơn là “ngọi”), “tòe loe” thành “tè le”, “én” thành “ắn”…), nên đọc “Giàu” (vần “au” khó, thành “Giày” vần “ay” cho khỏi uốn lưỡi, khó khăn). Và vì tiếng nói sử dụng thường ngày hơn chữ viết, nên “Bà Giàu” được đọc là “Bà Giày” ngày càng phổ biến. Từ đó, mang tên là Cầu Bà Giày cho mãi đến ngày nay. Vậy nên, bà Giàu thì vẫn tên là “bà Giàu” theo đúng chữ viết trong giấy tờ, nhưng gọi tên bằng phát âm thì là “Bà Giày”. Và vì bà Giàu là người lớn tuổi nên ít ai gọi thẳng tên bà “Giày” khi phát âm, chỉ có “cầu Bà Giày” thì được gọi thường xuyên và thành một địa danh phổ biến. Cũng chính vì cách phát âm này mà nhiều người lại luận cái tên cầu Bà Giày theo hướng khác, đó là Cầu Đò Dày (Giày) với lý giải cũng rất có lý, rằng: Trước khi có cầu thì phương tiện qua sông là những chuyến đò, mà muốn lên đò thì phải bắc một tấm ván từ bờ lên ghe/ thuyền cho khách bước lên, tấm ván ấy gọi là ván đò dày và vì vậy có tên là Cầu Đò Dày (Giày).
Nơi đây là đầu phía nam của Cầu Bà Giàu cũ (Bến Sông Trầu/ Bến Thế). Nền xi măng này do dân mới đắp để làm chỗ Cúng Bến và tổ chức đua thuyền hàng năm - Phía trên ảnh là Cầu Nguyễn Phùng hiện nay (Ảnh: Lê Huân)
Cầu Bà Giày gắn với đời tôi ba kỷ niệm: hai riêng và một kỷ niệm chung.
Kỷ niệm trong thời chiến trước 1975: Khoảng 1972 - 1973, lúc đó Cầu Bà Giày đã có trụ bê tông cốt thép, nối các trụ là dầm cầu làm bằng sắt đường rây xe lửa. Trên hai thanh sắt dầm cầu song song, lót những tấm ri sắt không rỉ của Mỹ, mặt có lỗ hình vuông kiểu lưới mắt cáo, rất bền. Thời chiến tranh, xã Kỳ Sanh (Tam Mỹ hiện nay) là vùng tranh chấp, tối thì Cộng sản về, ngày thì lính Cộng hòa hiện diện. Cả hai bên đều tranh thủ giành lấy số thanh thiếu niên mới trưởng thành. Phía Quốc gia là lệnh quân dịch, bắt thanh niên trốn lính, phía cách mạng là vận động, lôi kéo thanh thiếu niên lên núi. Năm ấy, ông ở xóm Gò Đồng bên kia sông ông Tiên có thuê một thiếu niên giữ trâu tên là Liên. Vì bên Gò Đồng (xã Kỳ Khương/ Tam Hiệp, nay là xã Núi Thành) thiếu đất hoang, không có cỏ cho trâu, bò ăn; nên dân Gò Đồng thường cho trâu, bò bơi qua bên Xóm Bến để chăn trên những cánh đồng chua mặn bỏ hoang ở Cồn Định, Gò Ông Thảo và Đầm Ba Sơn - cái đầm nước mặn trải dài từ Gò Gốc Găng xóm Bến (Kỳ Sanh/ Tam Mỹ), xuống phía Nam xóm Dện nối với Rừng Sác giáp sông Tịch Tây thuộc xã Kỳ Liên/ Tam Nghĩa (nay là xã Núi Thành) phía Đông. Vì lẽ đó, đám chăn trâu và số thanh niên hai bên đầu cầu chơi rất thân nhau. Một đêm, theo kế hoạch từ trước, du kích về dẫn và “bắt” xong đám thanh thiếu niên ở Gò Đồng thì kéo sang Xóm Bến để “bắt” tiếp số thanh thiếu niên bên Xóm Bến. Nhưng lúc vào nhà Bà Giàu để chuẩn bị qua cầu, thì con trai bà Giàu là anh Út Hoanh (lính Cộng hòa) đêm đó, không đi trực, ngủ lại ở nhà ông Bảy Tảo, nên du kích bắt luôn anh Hoanh dẫn đi. Khi kéo cả toán người qua cầu để sang Xóm Bến theo kế hoạch thì tiếng ri sắt tạo nên tiếng động (kêu) quá lớn giữa đêm khuya thanh vắng. Sợ bị lộ nên bỏ dở kế hoạch, quay lại và dẫn toán người về lại Gò Đồng ngược lên Gò Din để đưa lên núi. Trong quá trình đưa đi, anh Út Hoanh sợ quá bỏ chạy, nên bị bắn chết và để xác lại phía trên xóm (!). Sau ngày giải phóng, không biết có chính xác không, có người kể lại rằng, chính anh Liên (người giữ trâu cho ông Tiên) là người của cách mạng nên ghi hết danh sách thanh thiếu niên cả hai xóm Gò Đồng, Gò Tranh và Xóm Bến để cách mạng về dẫn và bắt lên núi (!). Tất nhiên trong số thanh thiếu niên ấy, ngoài số gọi là “bị bắt” thì cũng có số đã được giác ngộ, đồng ý để du kích về “dẫn” lên.
Còn kỷ niệm thời bình sau 1975 thì xảy ra vào Hè năm 1979. Lúc đó tôi là sinh viên vừa học xong năm thứ 1 của Đại học Sư Phạm Quy Nhơn về nghỉ Hè ở quê. Thuở nhỏ, do anh Hai và anh Sáu tôi mê đàn, nên tôi cũng vỏ vẻ hát nhạc, đặc biệt là hát cải lương rất hay, nổi tiếng cả làng. Lên sân khấu đóng vai con của Thị Kính trong vở tuồng “Quan Âm Thị Kính” khi tóc còn để chỏm và bận quần xà lỏn. Lên cấp ba, khi đang học lớp 10, 11, tôi đã là “kép chính” của “Đoàn cải lương” Xóm Bến và Xóm Chợ (tôi sẽ kể về các “Đoàn Cải lương” của xã Tam Mỹ ở một trường đoạn phía sau). Vào sinh viên, tôi bắt đầu học đàn. Và năm đó, khi về hè, tối tối, sau khi ăn cơm xong, tôi cùng mấy đứa em và bạn bè gần nhà tập trung ra cầu ngồi đàn hát. Tất cả khoảng gần 20 người cùng ngồi chung ở một nhịp cầu. Khi tôi đàn và hát bài nhạc mạnh của nước ngoài là “Sambario” (Nhạc Ý), đến điệp khúc cao trào “Sambari, sambari, sambáriô…”, tất cả đều nhịp theo nên cộng hưởng sức, cả nhịp cầu đầy ri sắt và người đều đổ hết xuống sông. May mà về đêm, giờ đó thủy triều rút nên nước sông cạn. Vừa có nước đỡ vừa nhờ nước cạn nên tất cả đều an toàn chỉ có vài người bị trầy sướt nhẹ. Đặc biệt đêm đó có cả một chị trong xóm đang mang thai, cũng an toàn cả mẹ lẫn con. Cho nên, cái Bến Sông Trầu quê tôi được tiếng là hiền chính là như thế. Cũng chính vì nhịp cầu gãy mà hôm sau, tôi lỡ một cuộc hẹn với cô cháu họ bên kia cầu (gọi tôi bằng cậu, học cùng lớp phổ thông) đang là học viên sư phạm Quảng Nam - Đà Nẵng có dẫn bạn về định mai mối cho tôi, nhưng cầu gãy không gặp nhau được. Hết Hè, tôi lại ra đi, nên chuyện mối mai cũng lãng quên theo năm tháng…
Bên cạnh hai kỷ niệm chính, còn có một kỷ niệm vui vui như vầy: Khi đúc trụ làm cầu, bắc các nhịp bằng thanh rây tàu lửa để lót tấm ri làm mặt cầu, thì cái trụ chính giữa sông được đúc trụ đôi (gọi là trụ bốn, tức có tới 4 cái trụ) làm thành một ô vuông cho vững chãi. Ngay giữa trụ, trên mặt nước luôn có thanh bê tông ngang nối để giữ vững bốn trụ. Chỗ này rất lý tưởng cho những anh chàng nghịch ngợm leo xuống dưới mặt cầu, ngồi “đi cầu” xuống sông vào ban đêm. Tối nọ, như một thói quen, một chàng leo xuống ngồi, nhưng khi chưa kịp “cầu” thì một tốp nam nữ lại xách đờn ra ngồi ngay chính giữa cầu (chỗ trụ bốn) bắt đầu nổi nhạc và hát. Em Thu nhà gần bến sông bắt đầu cất tiếng “Còn gì nữa đâu mà khóc với sầu…” (Bài hát “Ngày buồn” của nhạc sĩ Lam Phương sáng tác năm 1971). Thấy tình thế này chắc không thể “cầu” nổi, anh chàng kéo quần lên và ngửa luôn mặt lên cầu tiếp theo bài hát đang dở câu đầu: “Còn gì nữa đâu mà ỉa với đái!” mà lẽ ra nếu cô Thu hát tiếp sẽ là “Còn gì nữa đâu mà buồn với nhớ!”. Cả bọn cùng cười khi thấy anh chàng leo lên vì thực ra chuyện xuống “đi cầu” dưới trụ bốn vào ban đêm là chuyện cũng thường tình…
Sau Giải phóng (chính xác là năm 1989 - cùng năm với xây Đập Trà Tây kiên cố), chính thức Cầu Bà Giày được phá bỏ. Một cây cầu mới bắc qua sông Trầu (cách cầu cũ khoảng gần 100 mét về phía Tây) và hình thành một con đường mới, nối thẳng vào Nam tạo nên một ngã ba với con đường từ cầu Bà Giày (cũ) đi lên, ngay dưới ngõ nhà thờ Mai tộc của tôi hiện nay. Cầu mới được đặt tên là Cầu Nguyễn Phùng - tên một chiến sĩ cách mạng lãnh đạo Phủ ủy Tam Kỳ do Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam công bố thành lập ngày 15.8.1933. Giao thông đường bộ ngày càng phát triển, cầu Bà Giày không còn, cái Bến Sông Trầu cũng mất đi, nhưng để duy trì tục lệ cúng Bến hàng năm, dân Xóm Bến quê tôi (tại đầu cầu phía Nam) đã đắp và tráng bê tông xi măng một khoảng sân rộng ngay đầu cầu Bà Giày cũ (bến Thế cũ) để làm chỗ cúng Bến và tổ chức hội đua thuyền vào dịp cuối năm. Và thực ra đến bây giờ, cầu Bà Giày không còn nữa, dù tên cầu mới xây là Cầu Nguyễn Phùng (trên khoảng gần 100m), nhưng những người thuộc thế hệ chúng tôi về trước vẫn cứ gọi chung là Cầu Bà Giày theo thói quen xưa nay đã có.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.