Nói đến nhà thơ Đỗ Bạch Mai, người ta thường thấy bóng dáng của người chồng đã có ảnh hưởng rất lớn đến con đường thơ văn của bà - nhà thơ Bế Kiến Quốc - dù ông ra đi đã gần mười năm. Cũng bởi sự mất mát này, nhà thơ Đỗ Bạch Mai thường lặng lẽ ở một góc của đời sống ồn ã. Bà lặng lẽ làm việc, lặng lẽ nuôi con, lặng lẽ với thơ ca...
Nhà thơ Hoàng Hưng nhận định: “Hình ảnh trong thơ hiện đại bất ngờ, sửng sốt, nhiều khi kết hợp hai sự vật rất xa nhau, tạo sự nhảy vọt về trí tưởng. Điều quan trọng là những kết hợp bất ngờ ấy không do “sự nghĩ” mà có. Đó là thành quả của đời sống tiềm thức mạnh (giống như những chất liệu của ban ngày kết hợp thành giấc mộng ban đêm). Nó cũng thể hiện “cái ngẫu nhiên” của đời sống hiện đại đầy bất trắc, đầy biến động không ai đoán định nổi…. Việc Nguyễn Bính là nhà thơ được yêu thích nhất hiện nay nói lên rằng: tâm lý thưởng ngoạn của công chúng Việt Nam chưa mấy sẵn sàng để đón nhận thơ hiện đại… Điều đáng tiếc là chính các nhà thơ và giới lý luận phê bình Việt Nam chưa có ý thức chủ động chuẩn bị tâm thái cần thiết cho công chúng bước vào thế giới thơ hiện đại. Ngược lại, xem ra các quan niệm từ giữa thế kỷ 19 vẫn ngự trị cách nhìn nhận chính thống về thơ”
Lĩnh vực mà chúng ta xem xét ở đây là phê bình văn học. Để hiểu phê bình văn học thế kỷ XX một cách khoa học ngoài công việc không thể thiếu là mô tả những tác giả, phong cách phê bình riêng rẽ, điều quan trọng hơn là phải nhận ra những dấu hiệu chung cơ bản giữa các tác gia, các phong cách phê bình. Đó trước hết là sự giống nhau trong cách hiểu về bản chất văn học, về chức năng của phê bình và phương pháp phân tích các hiện tượng văn học mà trước hết là tác phẩm văn học.
Vào ngày 18 tháng 9 năm 1886, một năm quan trọng diễn ra triển lãm cuối cùng của các nhà Ấn tượng chủ nghĩa, trong phần phụ lục của tờ Figaro, “Tuyên ngôn của Chủ nghĩa tượng trưng” đã xuất hiện, được chấp bút bởi nhà thơ Jean Moréas: ngay lập tức sau đó thuật ngữ “Symbolism” được đưa vào sử dụng..
Văn học chữ quốc ngữ Việt Nam khởi đầu với tờ Gia-Định Báo năm 1865 và Nguyễn Trọng Quản là nhà văn tiên phong mở đường cho thể loại tiểu thuyết với Thầy Lazarô Phiền viết năm 1886 và xuất bản năm sau, 1887.
Khuya lắm rồi ông chưa ngủ, vẫn lúi húi ký vào từng giấy mời, đọc lại các văn kiện, thông báo... để cơ quan kịp gửi về các tỉnh, hoặc gửi tới các nghệ sĩ lão thành khi sắp đón năm mới. Đã nhiều năm phải viết báo cáo, một việc làm mà ông rất ngán ngẩm. Tuy vậy, ông vẫn nghiêm túc và kiên trì ngồi viết. Cũng mất vài ngày đêm. Vậy là nhanh hơn cả thời gian ông sợ và trốn việc này. Sau đấy, ông thường bị ốm khá nặng. Rồi nhiều đêm khác, ông vẫn hào hứng thức tới sáng để viết lời chào mừng từng hội, không dập khuôn, không sáo rỗng. Ông chân thành gửi gắm tình cảm của mình trong bài viết. Đâu thể “nhất bên trọng, nhất bên khinh”, đến hội này, không đến hội kia, mà trên sáu chục hội toàn quốc – mỗi hội một khác, nên ông rất băn khoăn không thể đến hết được.
Vậy là trước khi có "Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa", Nguyễn Minh Châu đã viết "Chiếc thuyền ngoài xa" từ 1983. Một kiểu “tiền trảm hậu tấu” hay thí ngiệm bằng chính sinh mệnh văn chương của mình?
Đề tài, vốn được xem như một mảnh đất mời gọi những người viết gieo trồng và gặt hái. Nhưng thật lạ, cũng từ đó, với tài năng tái cấu trúc thành thế giới nghệ thuật riêng của mình, nhà văn đã giúp đề tài có tầm vóc hơn. Nó không bạc màu, cũ kĩ mà xanh tươi và mênh mông như một thảo nguyên rộng lớn lôi cuốn những cây bút đi sau. Ấy mới là lúc nhà văn đã tri ân được “mảnh đất” đã làm nên tên tuổi của mình.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.