• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
NỖI ĐAU TRẦN THẾ TRONG 'HAI PHÍA PHÙ SINH' CỦA NGUYỄN THÚY QUỲNH -Tiểu luận CAO THỊ HỒNG

NỖI ĐAU TRẦN THẾ TRONG 'HAI PHÍA PHÙ SINH' CỦA NGUYỄN THÚY QUỲNH -Tiểu luận CAO THỊ HỒNG



NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 29 Tháng 3, 2026 lúc 16:57

Không phải ngẫu nhiên, ngay lời đề từ Hai phía phù sinh (Nxb. Hội Nhà văn, H.2018) Nguyễn Thúy Quỳnh viết: “thả bầy chữ qua cánh đồng, dòng sông, những cơn dông qua thăm thẳm bóng đêm về miền Ánh Sáng”.

Đây cũng là tâm thức chi phối thế giới nghệ thuật trong tập thơ, và xoay quanh tư duy thơ thấm đẫm tinh thần hiện sinh nhân bản, Nguyễn Thúy Quỳnh đã bày tỏ những ưu lo của mình về một cõi nhân gian đầy rẫy những khổ đau mà con người phải gánh chịu trong hành trình sống của chính mình. Một nỗi đau mà đức Phật đã khái quát một cách đầy hình tượng trong một tư duy triết học để chúng sinh có thể cảm nhận được khi Ngài cho rằng: “Đời là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước bể”. Còn nhà thơ Etophi của Phi Châu, nơi mà đói nghèo và chết chóc luôn trùm lên số phận của bao kiếp người thì xót xa thở than: “Buồn đau là biển cả /Sung sướng là ngọc châu/ Khi mò được ngọc châu dưới biển/ E nửa vời tan nát biết đâu?”.

Nhà phê bình Cao Thị Hồng

Thật vậy, thân phận của con người trên cõi trần thế này thật mong manh, vì thế hạnh phúc nếu có cũng chỉ là màn sương hư ảo.  Và thơ Nguyễn Thúy  Quỳnh cũng đã bước đầu chạm đến những suy nghiệm mang màu sắc hiện sinh này. Thế nên, hiện diện trên những trang thơ của chị là muôn triệu sinh linh bé bỏng đang đối diện với sự sống và cái chết; hạnh phúc và bất hạnh; Sự thật và giả dối; tốt và xấu đang hiển lộ trong từng khoảnh khắc của hiện hữu…Sự vận động, giằng co giữa những đối cực của thế giới muôn hình vạn trạng sắc màu, cung bậc trong Hai phía phù sinh diễn ra căng thẳng, dữ dội, khốc liệt. Và như một tất yếu của sự khủng hoảng trong xã hội mà mọi giá trị đều bị đảo lộn nên nhiều khi cái ác đã thắng cái thiện, lẽ phải, công lý, sự chân chính, thật thà bị nhấn chìm bởi những phi lý, bất công, gian xảo, lọc lừa, trí trá nhưng đầy quyền lực…khiến cho mọi sinh linh bị đẩy vào chân tường của bi kịch. Song dẫu sinh linh trên cõi trần thế này có bị chìm đắm trong tận cùng của bi kịch, thì cuối cùng, nhân loại vẫn tiếp tục cuộc hành trình hướng về miền ánh sáng, dẫu có phải đánh đổi bằng máu và nước mắt – đó là thứ ánh sáng cuối cùng còn sót lại có thể cứu rỗi con người, gieo hạt niềm tin khi tất cả đang chìm trong đêm đen mờ mịt. Hai phía phù sinh đúng như tên gọi của nó mang màu hiện sinh rõ nét, cho nên tập thơ đã khơi gợi trong bạn đọc những ưu tư về một cõi trần ai đầy trắc trở, vô thường.

Ám ảnh sâu nhất trong lòng người đọc tập thơ có lẽ là việc tái hiện những cái chết.  Tập thơ có 20 bài thì có 13 bài xuất hiện cái chết. Đó là cái chết của một con mèo bị xe cán, Cá chết ở sông Nhuệ, Có thể ở nơi ngọn khói hương bay lên, Tặng linh hồn bé Nhung, Cho dù sự thật có mùi gì, Viếng những người lính dù hy sinh ngày 6/7, Tặng các con ở Ishinomaki, Đôi dòng dâng những hồn cây, Thiêu thân, Về một sinh linh vừa rời bỏ trần gian, Hỏi, Nghĩ trong sương mù, Nghĩ cùng năm mới,… Thực ra, sống và chết là hai đối cực luôn diễn ra tự nhiên trong sự vận động của vũ trụ, của đời sống con người. Tuy vậy, dù bất luận là lý do gì cái chết cũng luôn mang đến cho con người những ưu tư, nặng nề, bởi lẽ cái chết là hiện thực hóa sự hư ảo, mỏng manh trong sự tồn sinh của vạn vật trên cõi trần thế …

Tập thơ “Hai phía phù sinh” của Nguyễn Thúy Quỳnh

Đọc Hai phía phù sinh, có thể nhận thấy tâm thức hiện sinh xuất hiện như một giá trị trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh. Nhà thơ đã không thể nén lòng trước những cái chết thê thảm, đớn đau, đầy phi lý, cho dù đó là cái chết của con người, hay là một sinh vật nào đó trong thế giới hỗn mang này. Và chính những nỗi đau này đã tạo nên những dự phóng sáng tạo trong thơ, trở thành những ám ảnh của vô thức và tâm linh không chỉ trong tâm cảm thi nhân mà còn trong tâm cảm của người đọc:             Giữa bầy nhầy máu/ sót lại một vạt lông trắng mịn/ Nó bé bỏng và thanh khiết thế ra ngã năm làm gì/ để chết tức tưởi dưới một bánh xe vô tình/ chết thêm hàng vạn lần dưới những vòng xe vô cảm… (Về một con mèo bị xe cán)

       Quên đi con nhé/ nẻo đường gập ghềnh từng là nỗi kinh hoàng của con ngày ngày chiếc xe đạp tả tơi, bộ áo quần rách nát/ Quên đi/ những hạt cơm cuối cùng con vét tối qua/ trong chiếc nồi lúc nào cũng thiếu từng nắm gạo/ Trái tim bé bỏng của con sẽ không còn triền miên nhức nhối cơn đau… (Tặng linh hồn bé Nhung)

      Mười tám dòng sông/Một sớm đổ vào trời/ Mười tám ngọn lửa /Thiêu đốt triệu hồn người/ Mười tám vầng trăng / khuyết suốt đời con trẻ/ Mười tám lá xanh/ Rụng nát lòng cội rễ (Viếng những người lính dù hy sinh ngày 6/7)

Đâu phải chiến tranh / mà mấy chục cuộc đời nát vụn một ngày mìn nổ đá rơi/ phút chốc chạm đường ray, đồng làng bời bời khăn trắng (Những tích tắc quanh tôi)

Những Người Cây bị bức tử đã được đem đi/ Không còn chút dấu vết nào/ Dù chỉ một cánh tay, một con mắt lá/ Người ta đã dọn sạch thi hài của họ (Đôi dòng dâng những hồn cây)

Ở những bài thơ xuất hiện cái chết, với âm chủ là giọng kể chậm, trầm, buồn, hiện thực do tác giả “tự cảm thấy” được tái hiện trước mắt người đọc phủ gam màu lạnh, tối sẫm, u ám, thê lương, cái chết xảy ra nhiều khi chỉ là trong tích tắc, bất ngờ đến khó tin, những cái chết mang đầy ưu tư về cõi trần thế:  Sự sống của một chú mèo xinh xắn, một bầy cá dưới sông,  một em nhỏ mồ côi, một hài nhi bé bỏng mới chào đời, một người lính dù trẻ tuổi, một thân cây đang mơn mởn xanh tươi…tất cả bị cắt đứt một cách đột ngột, tàn bạo, phũ phàng, mọi sinh linh vừa hiện hữu đó mà bỗng nhiên trong khoảnh khắc đã trở thành cát bụi…nỗi đau lắng lại, kết khối trong sâu thẳm lòng người…

Tại sao con người và những sinh vật vô tội lại phải chết tức tưởi, oan khuất như vậy? Câu hỏi truy vấn nhân tâm thế cuộc nhức nhối vang lên nhưng đâu dễ có câu trả lời. Chỉ biết những cái chết không đáng chết của vạn vật là một sự phi lý khiến lòng người đau đớn khôn nguôi. Những ngang trái, bất công hoành hành trên cõi thế khiến bao kiếp phận sinh linh bị dập vùi tơi tả đã đẩy giới hạn chịu đựng của con người đến tận cùng, cho nên  trong tập thơ, bạn đọc có thể thấy chủ thể trữ tình đã không thể kiềm chế, tác giả nhiều lần xuất hiện trực tiếp  trong tư thế của người phán xử trước tòa án lương tâm: Những lời đầu môi trôi về đâu/ chỉ còn vạn giấc chết nổi trắng mặt sông (Cá chết ở sông Nhuệ), Không một lời biện minh nào đủ lấp đầy sự ra đi tức tưởi của con/ không một sự sám hối nào đủ xóa tội cho những người ở lại/ Chúng ta, những kẻ thản nhiên sống và ngợi ca sự sang giàu/ giữa trùng trùng áp phích, pa nô quảng cáo sáng choang/ không một ai đủ tư cách cầu xin con/ một em bé chết đói giữa ban ngày/ tha thứ (Tặng linh hồn bé Nhung), Đừng than khóc rùm beng rồi làm khổ nhau/ Nếu có lòng hãy thương lấy những sinh linh cô độc đang bơ vơ trên mặt đất này (Về một sinh linh vừa rời bỏ trần gian).

Với sự nghiệm sinh sâu sắc, thơ Nguyễn Thúy Quỳnh đã  truyền cảm hứng cho người đọc, buộc chúng ta phải sống chậm lại, dành ít phút ngẫm nghĩ về nhân tình thế thái…cảm thức hiện sinh của tập thơ khiến chúng ta phải suy tư về sự được/ mất, chân/giả, thiện/ác, tốt/xấu trên cõi trần, bởi, trước cái chết mọi thứ bỗng trở thành phù du, vô nghĩa… Và, nếu trái tim nhà thơ không thực sự xót xa đau đớn, cảm thông trước sự sống và cái chết của sinh mệnh con người cũng như vạn vật thì không thể có những vần thơ thấm đẫm tinh thần nhân bản như thế!? Đây cũng là điều cần ghi nhận về ý thức công dân của nhà thơ trước những vấn đề nhiễu nhương đang từng ngày từng giờ giết chết môi trường sống của con người và mọi sinh vật khác mà những nhà khoa học chân chính đang cảnh báo.

Soi chiếu con người và cuộc sống từ những góc nhìn khuất lấp, ẩn tàng nhiều thông điệp, trong Hai phía phù sinh  Nguyễn Thúy Quỳnh một mặt vừa tỏ rõ thái độ chia sẻ, đồng hành cùng những kiếp phận chịu nhiều mất mát, khổ đau, vừa “lột mặt nạ” của những kẻ tàn độc, vô lương. Đã đến lúc người tử tế không thể đồng hành với những kẻ nhân danh “công lý” mà đằng sau vỏ bọc hào nhoáng là sự giả dối, ti tiện, đớn hèn, họ chỉ biết: Cao đàm khoát luận về sự tử tế/ bền bỉ tuyên ngôn cho tình yêu thương/ rỏ nước mắt trước kẻ khốn cùng/ và im lặng trước những điều giả dối…giữa u u minh minh vẫn nhìn ra đâu là Chân, Giả/ rồi nhếch mép quay đi (Phác thảo một chân dung). Âm vang trong Hai phía phù sinh là niềm day dứt, là câu hỏi trăn trở cõi người sẽ ra sao đây nếu nhan nhản quanh chúng ta chỉ còn thấy:  những ánh mắt nhắm tịt/ những ánh mắt nhìn ngang/ những ánh mắt vờ như không nhìn/ những ánh mắt cụp xuống/ những bàn tay lạnh tanh/ những bàn tay vờ nhấn phím/ những bàn tay buông xuôi dưới gầm bàn/ những bàn tay sột soạt trong bóng tối (Tôi nhìn thấy).

Tập thơ, vì thế đã phơi bày một sự thật đau lòng trong thời đại kỹ trị, đó là sự vô cảm như căn bệnh trầm kha lan truyền trong xã hội đã, đang và sẽ làm băng hoại giá trị Người trong mỗi một Con Người. Nó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những bi kịch diễn ra trong cõi trần thế mà tận cùng của những tấn bi kịch ấy chính là những cái chết thương tâm. Thông điệp nhân văn đó vang lên khẩn thiết, thôi thúc người đọc hướng về phía ánh sáng nhân văn để cùng nhau hành động ngăn chặn những tấn bi kịch đang phủ xuống cuộc sống muôn loài trên cõi trần thế này. Thiết nghĩ, đây cũng có thể coi là khát vọng “dấn thân” của thi nhân vì một sự hiện hữu đúng nghĩa của con người và vạn vật.

Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh (thứ 2 từ phải sang) với đồng nghiệp

Thơ vốn là tiếng gọi sâu thẳm của cõi vô thức và tâm linh kết hợp với trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ. Không bắt đầu từ những gì cao siêu, to tát, trong Hai nửa phù sinh, Nguyễn Thúy Quỳnh luôn ưu tư, suy niệm về cuộc sống từ những điều giản dị mà tên gọi những bài thơ có thể cho chúng ta thấy điều này: Dựng nhà, Sau tiếng sét đầu mùa, Chuyện kể về một ngôi nhà, Về chậu hoa giấy ở hành lang, Chuyện trong quán nước, Nghĩ vặt về khẩu trang sau bản tin môi trường, Về một con mèo sống cùng nhà, Trở về nhà, Biên bản buổi chiều chưa đặt tên…Hành trình cuộc sống vốn không ít cay đắng đa đoan, lưu dấu nhiều kỷ niệm buồn, vui, đau khổ, hạnh phúc… của thi nhân đã ít nhiều ảnh hưởng đến kiến tạo thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Dường như những “ẩn ức” từ trong cuộc sống là “dự phóng” để nhà thơ có thể trải lòng mình một cách “thành thực”, một phẩm tính rất cần có trong thơ mà nếu không có nó thì thơ cũng chỉ là những ngữ ngôn rỗng tuếch vô hồn.

Và đây là chính là sự thành thật hiếm quí như thế trong thơ Quỳnh: Một phần mười giây/ mẹ kịp nhận ra nỗi khiếp đảm trong mắt các con/ sau ánh chớp chói loà và tiếng nổ rung trời của nó / một phần trăm giây/ mẹ kịp nhận ra những cánh tay nhỏ nhoi vươn lên/ bước chân mẹ chập vào nhau, đổ về phía cuối phòng/ mười lăm mét sao mà hun hút/ Trong bóng tối chết lặng/ dưới tay mình/ mẹ gặp những mạch máu của các con đang líu ríu chảy/ những nơ ron thần kinh nép vào nhau run rẩy/ những tế bào tươi non cuống cuồng/ khao khát được chở che… Xin lỗi các con. (Sau tiếng sét đầu mùa), Vẫn biết sinh ký tử quy/ vẫn biết ngày của anh không tính bằng trăng nhưng… /giá mà em ngộ ra những phù du cõi người/ bập bềnh trôi ngoài cửa nhà mình/ biết đâu giờ này/ những bước chân anh đang chậm chạp lên cầu thang/ căn phòng bé nhỏ/ vẫn ấm tiếng anh gọi em và con mỗi sớm (Có thể ở nơi ngọn khói hương bay lên). Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, giàu nữ tính trong những bài thơ được cất lên từ những trải nghiệm của chính cuộc đời tác giả  là yếu tố góp phần không nhỏ cảm hóa, lay động trái tim bạn đọc. Những lo âu, dằn vặt, tự vấn, những sám hối, tiếc nuối và cả đau đáu khát khao rất thật của Nguyễn Thúy Quỳnh đã đánh thức nơi người đọc những gì thuộc về thiên lương, nhân bản nhất của con người. Giá như giọng điệu đó được chảy trong tập thơ như một mạch ngầm xuyên suốt thì tôi tin sức thuyết phục  từ tập thơ này của Nguyễn Thúy Quỳnh còn lớn hơn nhiều.

Dẫu thế nào thì cuộc sống vẫn không ngừng trôi về phía trước, đời người vẫn diễn ra như một hành trình dằng dặc và lữ khách không thể dừng chân. Người thơ Nguyễn Thúy Quỳnh vẫn tiếp tục trăn trở, ưu lo để hướng đến sự hoàn thiện về  đời và thơ của mình. Bởi đã là con người, và hơn nữa là một nhà thơ không ai là không có những giới hạn. Vấn đề là mình có nhận ra những giới hạn ấy để dũng cảm vượt lên và hoàn thiện chính mình. Tôi đọc thấy trong Hai nửa phù sinh của Nguyễn Thúy Quỳnh những ưu tư chồng chất ưu tư, những khắc khoải, lo âu không ngừng chảy để hướng về miền Ánh Sáng.  Mặc dù người viết bài này không hẳn thích một số những cái kết có tính luận đề, lý trí và tỉnh táo nhưng biết đâu đó lại là dụng ý nghệ thuật của tác giả?! Tất nhiên tôi tôn trọng chính kiến của Nguyễn Thúy Quỳnh – một nhà thơ khao khát Tự do, tôn trọng Sự thật, luôn khát vọng Hạnh phúc cho con người và vì con người. Chừng nào còn dằn vặt, ưu tư trong cõi phù sinh, chừng đó tôi tin Nguyễn Thúy Quỳnh sẽ tiếp tục vượt qua giới hạn của chính mình để khẳng định bản lĩnh sáng tạo nghệ thuật, như chị đã xác quyết:  Nhưng sinh ra đã là cây/ Không thể dầm chân trong bóng tối/ Ngày ngày gắng gỏi vươn tìm ánh sáng/ Chắt chiu những tia nắng ngoài kia…Bất chấp sự cắt tỉa cho vừa khuôn phép/ Bất chấp cánh cửa kia một ngày bị khép/ Vì những bông hoa / chỉ rực rỡ dưới mặt trời (Về chậu hoa giấy ở hành lang)./.

Cầu mong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh tiếp tục tỏa hương, một thứ hương của thành thực và nhân bản… một yếu tính không thể thiếu trong thơ, nhất là trong cõi nhân gian vốn đang đầy những điều nhiễu nhương này…!

CAO THỊ HỒNG



Tin tức khác

· NHỚ HOÀNG TRẦN CƯƠNG LẠI NGHĨ VỀ TRƯỜNG CA 'LONG MẠCH'
· CHUYỆN THÊM VỀ ÔNG HOÀNG BẢO ĐẠI
· THÁI BÁ LỢI - TỪ QUÂN Y SĨ ĐẾN NHÀ VĂN
· NGƯỜI ĐI TIM 'BỤI ĐỎ' ĐÃ HÓA THÂN VÀO 'CÁT BỤI' PHẬN NGƯỜI - Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH
· DỐC IM LẶNG - THƠ CỦA MỘT HỌA SĨ - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· BẮT GẶP HAI VIÊN SỎI QUÝ VÙNG THẤT SƠN
· HỒ SƠ MẬT CỦA PHÁP NÓI GÌ VỀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ CỦA VIỆT NAM?
· VỊ ĐÌNH NGUYÊN CUỐI CÙNG TRONG LỊCH SỬ KHOA BẢNG VIỆT NAM LÀ AI?
· VỀ LẠI GA XÉP
· MIỀN BẮC VIỆT NAM THẾ KỶ XIX QUA ỐNG KÍNH CỦA BÁC SĨ QUÂN Y NGƯỜI PHÁP
· BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM GIỮA CUỘC ĐỜI
· THƠ NAM THANH - LAN TỎA TỪ TĨNH LẶNG - Tiểu luận HỒ THẾ HÀ
· DẤU ẤN CỦA THỦ LĨNH ĐỘI CẤN VÀ KHỞI NGHĨA THÁI NGUYÊN TỪ 6 BÀI THƠ CỦA NGÔ ĐỨC KẾ -Tiểu luận PHÙNG VĂN KHAI
· TRỊNH CÔNG SƠN VÀ SỰ HIỆN HỮU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN NGHỆ MIỀN NAM 1954 - 1975 -Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH
· NHỮNG NGỌN ĐÈO THẮP SÁNG THƠ CA - Tiểu luận NGUYỄN VŨ TIỀM
· CHO NGÀY 30 THÁNG 4 - CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ
· GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG LÀ GIỖ VỊ VUA NÀO?
· MỘT ĐÊM MƯA ẤM VỚI NHÀ THƠ HOÀI VŨ
· ĐÃ ĐẾN LÚC ĐƯA DANH NHÂN NGUYỄN QUANG BÍCH RA THẾ GIỚI
· NGUYỄN THÁI HẢI - KHÔI VŨ: NGƯỜI LẮNG NGHE TIẾNG NÓI NỘI TÂM

Tin tức mới
♦ CHÙM THƠ TRẦN HOÀNG VŨ NGUYÊN - EM NHƯ MẶT TRỜI CỦA NÚI TỰ GIẤU ĐI (14/05/2026)
♦ NHỚ HOÀNG TRẦN CƯƠNG LẠI NGHĨ VỀ TRƯỜNG CA 'LONG MẠCH' (14/05/2026)
♦ CHUYỆN THÊM VỀ ÔNG HOÀNG BẢO ĐẠI (14/05/2026)
♦ THÁI BÁ LỢI - TỪ QUÂN Y SĨ ĐẾN NHÀ VĂN (14/05/2026)
♦ NGƯỜI ĐI TIM 'BỤI ĐỎ' ĐÃ HÓA THÂN VÀO 'CÁT BỤI' PHẬN NGƯỜI - Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH (11/05/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2030716
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 103780
Truc tuyen Trực tuyến: 3

...

...

Designed by VietNetNam