TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
TỪ: Vanvn- Cập nhật ngày: 27 Tháng 2, 2026 lúc 14:17
Hoàng đế Lê Dụ Tông huý là Duy Đường, sinh năm 1680, là cháu nội vua Lê Thần Tông, con trai trưởng của vua Lê Hy Tông. Ông được vua cha truyền ngôi năm Ất Dậu (1705), lấy hai niên hiệu là Vĩnh Thịnh và Bảo Thái, giữ ngôi hoàng đế 25 năm. Ông được đánh giá là vị vua anh minh có công lớn với đất nước. Đời vua trị vì, trong nước không xảy ra binh đao, muôn dân được hưởng thái bình.
Khu lăng mộ vua Lê Dụ Tông tại làng Bái Trạch, xã Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Theo sách “Lịch triều tạp kỷ” của Ngô Cao Lãnh ghi: “Bấy giờ thừa hưởng cơ nghiệp thái bình, không xảy ra binh đao, trong nước vô sự, triều đình có làm được nhiều việc. Pháp độ được rất đầy đủ, kỷ cương thi hành được hết. Xứ xa lạ thì dâng lễ vật tỏ lòng thành, thượng quốc thì trả lại đất. Có thể gọi là thời cực thịnh. Nhà vua không phải khó nhọc mà mọi việc đều đâu ra đấy. Khi nói đến cuộc thịnh trị ở thời bấy giờ người ta tất phải kể đến đời vua này”.
Thi hài vua Lê Dụ Tông thời điểm được khai quật. Ảnh tư liệu
Sinh thời vua Lê Dụ Tông rất sùng đạo Phật, nhà vua thường vi hành đến các chùa ở Thăng Long thăm các nhà sư, chuyện trò và nghe giảng giải về Phật. Sau khi nhường ngôi cho con, nhà vua chuyên nghiên cứu về Kinh Phật, tuy không xuống tóc đi tu nhưng thường đến vãn cảnh chùa và cùng các sư luận bàn kinh sách, người đương thời coi vua là bậc thông tuệ, minh triết, một người hiền.
Vua Lê Dụ tông mất tháng Giêng năm Tân Hợi (1731), thọ 52 tuổi. Thi hài được táng tại Cổ Đô (xã Cổ Đô, huyện Đông Sơn cũ). Sau đó di táng về làng Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân (nay là xã Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).
Mộ vua Lê Dụ Tông bất ngờ được một người dân địa phương trong lúc cuốc đất làm vườn đã phát hiện vào tháng 2.1958. Đến năm 1964, do nhu cầu sản xuất của người dân địa phương, ngôi mộ bị đe doạ, Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ra quyết định cho phép khảo cổ khai quật mộ và đưa về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam lưu giữ và nghiên cứu.
Lăng mộ vua được xây dựng khang trang, có thiết kế như lăng mộ của các vua nhà Hậu Lê
Sau hàng chục năm lưu giữ ở bảo bàng, do khí hậu, di hài vua Dụ Tông và các đồ tùy táng bị xuống cấp. UBND tỉnh Thanh Hóa đã đề nghị được mang thi hài ông về an táng tại quê nhà.
Ngày 25.1.2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức lễ hoàn táng thi hài vua Lê Dụ Tông về đúng vị trí đã được người dân phát hiện ra lăng mộ ông năm 1958, khép lại hành trình 46 năm được khai quật, đưa về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phục vụ nghiên cứu khoa học.
Khu nhà bia ghi thân thế, sự nghiệp của đức vua
Hàng tượng quan văn võ, voi và ngựa đá chầu trước nơi an nghỉ của vua thể hiện sự uy nghi, trang trọng
Sau khi được hồi hương, lăng mộ Vua Lê Dụ Tông được xây dựng khang trang, rộng tầm 5.000 m2. Mộ vua được thiết kế chắc chắn, bề thế ngay chính giữa khu đất, phía trước lăng mộ có hồ bán nguyệt. Xung quanh khu di tích là cây cối và hai hàng tượng đá, linh vật như đang canh chừng giấc ngủ ngàn thu cho nhà vua.
Khu lăng mộ vua Lê Dụ Tông hiện là điểm đến tâm linh hút khách du lịch và là địa chỉ đỏ về giáo dục truyền thống của địa phương
Lăng mộ vua Lê Dụ Tông được quy hoạch khang trang, kiên cố, trở thành di tích lịch sử văn hóa để con cháu đời sau thăm viếng, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Năm 2019, Lăng mộ vua Lê Dụ Tông được xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Hằng năm, vào dịp Tết và ngày giỗ vua 20 tháng Giêng âm lịch, con cháu dòng họ, người dân địa phương đổ về rất đông để dâng hương tưởng nhớ, tri ân.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.