NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 22 Tháng 10, 2025 lúc 14:56
Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm (Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng) vừa ấn hành tập thơ thứ bảy – tập Thềm xưa – với thuần một thể thơ: thơ lục bát.
Tập thơ là sự trở về với thể thơ dân tộc trong một tâm thế nhẹ nhàng như một cuộc chơi với thi ca, với chữ nghĩa. Nhưng chính sự tự nhiên, nhẹ nhàng ấy đã đạt hiệu quả lớn lao, sâu sắc. Ấy chính là sự hoà hợp tuyệt diệu giữa nội dung và hình thức tác phẩm. Đề tài, chủ đề của tập thơ đã thể hiện ngay trong thi đề: Thềm xưa. Thềm nhà xưa chính là gia đình, quê hương, nguồn cội. Vậy thì lục bát, thể thơ xa xưa, thể thơ thể hiện bản sắc của dân tộc, tỏ ra hợp điệu, hợp giọng với cảm hứng hoài niệm, yêu thương của tác phẩm.
Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm
Hồn quê xưa và cảm thức nay
Dễ nhận thấy, đối tượng trữ tình của Thềm xưa là quê cũ gắn với ngôi nhà cũ. Ngôi nhà ấy, thềm nhà ấy giờ không còn, bỗng lúng túng cả đứng ngồi:
Nhà ta vừa giải tỏa xong/ Ngổn ngang giả hạ, bòng bong vui buồn/ Bao nhiêu kỷ niệm thoát hồn/ Bay lên lơ lửng phố ồn ào qua./ Nửa đời gắn với ngôi nhà/ Thương mưa dồn dột, nắng lòa xòa rơi/ Tường rêu, giường ván quen rồi/ Mai về chỗ mới đứng ngồi nơi đâu? – (Nhà xưa)
Trở về vườn xưa, nhớ ngôi nhà xưa, nhớ bậc thềm xưa và những ký ức lúc hiển hiện lúc nhạt nhoà, nghe lòng dậy sóng:
Bây giờ ngồi nhớ cố hương/ Nhớ đĩa cà tím dầm tương mấy mùa/ Sau vườn, nhớ gốc khế chua/ Trước sân, nhớ chậu hồng chưa xanh cành/ Đất bằng sóng dậy lênh đênh/ Đưa ta tới cõi mông mênh đời người – (Bây giờ)
Trong nỗi hoài niệm về những hình bóng xưa, hình tượng “bóng” xuất hiện nhiều lần, với nhiều đối tượng. Quê hương là “bóng non”, “bóng rừng”, “bóng lá”, “bóng mây”… Đứng giữa quê nhà, mà mọi hồi tưởng xa xăm như chiêm bao, cả “bóng em” cũng chập choạng, chới với:
Cúi đầu/ trước bóng non phơi/ Đỉnh lòng/ còn một góc trời/ hồn quê – (Huyền thoại đỉnh núi quê)
Hôm qua chợt thấy bóng rừng/ Ngủ trên bóng lá xanh từng bóng mây/ Chiêm bao nắng vỗ cánh bay/ Và em nõn trắng một ngày bóng xa – (Bóng xa)
Em xưa bóng nhớ còn đây/ Ủ đêm thành mộng, ủ ngày thành mơ – (Bóng xuân)
Nhưng đó là bóng của khách thể, còn ngay cả tôi (chủ thể) cũng thành ảo ảnh:
Phiêu bồng con mắt rất xa/ Nhìn tôi và thấy như là bóng tôi – (Con mắt phiêu bồng)
Không mải miết chìm đắm trong quá vãng, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm chọn cách nhìn đời bằng tuệ nhãn với tâm hướng thiền. Trong tư thế Đứng một chân (yoga), thi cảm thiền tính thể hiện trong cách nhìn thiên địa mênh mông, dòng dịch hoá miên viễn, nhân sinh như giấc mộng:
Nhắm mắt tập đứng một chân/ Hai mươi giây đã mấy lần nghiêng chao
[…]
Co chân tôi đứng, thở ra/ Hai mươi giây mốt, như là chiêm bao/ Đất vẫn rộng, trời vẫn cao/ Và mây trắng vẫn bay vào hư không
Rất nhiều lần, nhà thơ dựng hình tượng đôi mắt thấu thị sắc sắc không không, nên cần buông là buông để giữ tâm bình, như: Con mắt phiêu bồng, Đôi mắt khác, Bây giờ, Nhìn cha, Ra vườn,… Trong Đôi mắt khác, nhà thơ tự thuật:
Một trăm con mắt trong tôi/ Nhìn hoa thấy quả và chồi xưa sau/ Nhìn mây – biển hoá bể dâu/ Thấy khung cửi dệt vết đau nhân tình
Có lẽ, thi sĩ Nguyễn Nho Khiêm yêu mến thi sĩ Bùi Giáng và thích đọc thơ Bùi Giáng (trong Thềm xưa, nhà thơ có đề thơ trên ảnh thi sĩ Bùi Giáng hôn tay nghệ sĩ Kim Cương qua bài Thơ đề ảnh kèm lời đề từ “Cảm mối tình Bùi Giáng và Kim Cương”). Đọc Đôi mắt khác của Nguyễn Nho Khiêm, bạn đọc dường như liên tưởng đến hai câu thơ nổi tiếng của Bùi Giáng: “Bây giờ tôi đối diện tôi / Còn hai con mắt khóc người một con”. Nhưng nếu thi sĩ “điên rực rỡ” (từ của Bùi Giáng) khóc tình nhân thì thi sĩ Đôi mắt khác lại đau nỗi đau nhân tình, quán chiếu lẽ vô thường của tạo hoá:
Một đôi mắt khóc ngày xưa
Một đôi mắt biếc khép vừa hôm nay
Ngoái nhìn xa tít đổi thay
Thấy trong một cõi quần xoay tang tình.
Lời thơ truyền thống và cách tân
Nhà văn Nga Leonis Leonov đã nói: “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”. Đó là yêu cầu sáng tạo trong văn học nghệ thuật. Bất cứ nhà thơ, nhà văn nào cũng nằm lòng chân lý đó. Vậy thì, với thơ lục bát, các nhà thơ hiện đại sẽ tiếp nối truyền thống và cách tân như thế nào?
Tập thơ “Thềm xưa” của Nguyễn Nho Khiêm
Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm gây dựng Thềm xưa theo một cấu trúc ba đoạn (phần): Lời đọng trong sương, Giấc mơ bay, Khúc chiều xanh. Có lẽ, Lời đọng trong sương chủ yếu là thao tác hồi cố, trở về quá vãng qua những hoài niệm. Vì thế, những từ “xưa”, “xa” là con mắt thơ. Phần Giấc mơ bay chủ yếu là thơ tình, những tình yêu mơ mộng nhưng trắc trở, thường được hoá giải bằng việc chôn giấu trong tim hoặc bằng buông bỏ. Còn phần cuối – Khúc chiều xanh – là những chiêm nghiệm sau những chuyến đi, đi là để trở về. Cho nên, dẫu có đi muôn phương (vườn An Hiên, động Thiên Đường, cửa Tùng, phá Tam Giang…) thì vẫn không quên Vũng Thùng, phố Hội, núi Sơn Trà, biển Mỹ Khê, đặc biệt là làng Giáng La, cánh đồng làng, bếp của mẹ… Cấu trúc như thế, có lẽ, làm cho thơ giàu yếu tố tự sự hơn, tự sự mạch lạc mà lại không tự sự, trái lại, vẫn là những đoản khúc trữ tình da diết.
Trong Thềm xưa, không hiếm những câu, những bài mang phong vị lục bát dân gian (ca dao) với nhịp dàn đều, nhịp nhàng (nhịp 2/2 hoặc 4/4), với lời thơ, hình ảnh thơ hồn nhiên, mộc mạc, dân dã:
Bàn chân không dám bước nhanh/ Một con đường ngắn loanh quanh cõi người/ Tay run, dè dặt nụ cười/ Ước mơ chiu chắt, niềm vui dụm dành.- (Mẹ quê, 2)
Hải Vân vân hải đợi chờ/ Em trong vô thuỷ bất ngờ vô chung.- (Trên đỉnh đèo Hải Vân nhìn về Đà Nẵng)
Song, với những nhà thơ lục bát đương đại, cách tân tiết tấu qua nhịp thơ, cách tân hình thể câu thơ (mỗi dòng lục hoặc dòng bát được chia thành nhiều dòng), cách tân cấu trúc câu thơ… được các nhà thơ vận dụng khá nhiều. Trong Thềm xưa, chúng ta có thể thường xuyên bắt gặp những phương thức cách tân như thế:
bây giờ/ ngồi nhớ thương nhau/ chiêm bao buốt trái tim đau/ một mình/ em chồng con/ em vô tình/ để tôi nằm chết lặng thinh/ cõi này/ môi tôi/ uống nước mắt say/ năm năm, tháng tháng, ngày ngày/ nhớ em.- (Ngồi nhớ thương nhau)
Em về rộng một ngày thường/ Từ bi cá chợ rẽ đường về sông/ Em về gọi giữa mênh mông/ Lặng im. Thiên sứ tịnh không nói gì.- (Thả cá về sông)
Nhìn tổng thể, Thềm xưa cất lên một giọng điệu khá nhất quán – yêu thương, thiết tha – giọng điệu của lục bát ngàn xưa, điệu tâm hồn Việt qua bao đời. Bởi thế, Thềm xưa có sức đồng cảm và rung động, ít nhiều nhập hoà vào kho tàng lục bát rộng lớn của dân tộc.
Nhà phê bình Chế Diễm Trâm – tác giả bài viết
Có khi nào chúng ta tự hỏi vì sao có những nhà thơ quyết định ra mắt những tập thơ thuần tuý thể lục bát – một thể thơ đã có từ xa xưa, đôi khi bị đánh giá là đơn giản hoặc gò bó thi luật (âm luật, vần luật). Nhất là, trước đó, thành tựu thơ ca dân tộc đã có quá nhiều đỉnh cao, nhiều “thi bá” trong thể lục bát: Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Huy Cận, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Phạm Công Trứ…
Điều gì đã đưa họ đến với quyết định có vẻ táo bạo ấy? Tự tin chăng? Chắc là không, không ai tự tin rằng mình là “vua lục bát”. Vậy thì chỉ còn vì yêu. Phải! Yêu nên cứ viết, cứ ra mắt thơ lục bát. Một cuộc chơi nhẹ nhàng, thanh tao, được sống với cảm xúc chân thật của “người nhà quê” trong con người mình, được nói “lời quê chấp nhặt dông dài”, được sống với hồn vía “hương hoả cha ông”. Thế là được, được nhất. Còn lại mọi chuyện, tuỳ vào sự tiếp nhận của bạn đọc.
Tôi tin rằng, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm đã tâm niệm như thế khi trao vào tay bạn đọc chúng ta tập thơ lục bát Thềm xưa – nơi dung chứa “chốn hồng thiêng” (từ của Nguyễn Nho Khiêm) trong cảm thức của tác giả – rất tâm huyết đầy trân trọng như thế!
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.