• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
THUYẾT HẬU NHÂN BẢN VÀ VĂN HỌC HẬU NHÂN BẢN - Tiểu luận VÕ QUỐC VIỆT

THUYẾT HẬU NHÂN BẢN VÀ VĂN HỌC HẬU NHÂN BẢN - Tiểu luận VÕ QUỐC VIỆT



NGUỒN: Vanvn-  Cập nhật ngày: 26 Tháng 3, 2026 lúc 18:09

Năm 2002, Hiệp hội Ngôn ngữ Hiện đại Hoa Kỳ (MLA) tuyên bố họ đang xem xét bổ sung thuật ngữ Hậu Nhân (Posthuman) vào Thư mục quốc tế MLA[1]. Tổ chức này cho rằng: thuật ngữ Hậu Nhân dường như báo trước xu hướng học thuật sẽ ngày càng thu hút nhiều mối quan tâm.

Năm 2018, nhà lý luận nữ quyền và triết gia người Ý – Rosi Braidotti – tuyên bố: “Lý thuyết đã trở lại”[2]. Thực tế, khuynh hướng lý thuyết hóa thực tiễn mới đã diễn ra từ cuối và sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh; và ngày càng sôi động trong khoảng hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI. Tiến bộ vượt bậc trong khoa học công nghệ, nhất là trí năng nhân tạo (AI), đòi hỏi tái nhận thức hiện hữu người. Đến nay thuyết hậu nhân bản không còn vấn đề thuần túy lý thuyết mà trở nên vận động văn hóa đại chúng. Ihab Hassan định danh là văn hóa hậu nhân bản. Nhưng luận thuyết này cũng không phải vấn đề quá mới mẻ mà trải qua quá trình tồn tại trong thực tiễn đời sống chí ít nửa thế kỷ. Nếu nhân bản luận vốn định hình như thiết chế được nhìn nhận rộng rãi thì thuyết hậu nhân bản vẫn đang trong tư thế vận động. Trào lưu tư tưởng này vẫn đang tiếp tục tích hợp, triển khai và trong học giới còn tồn tại nhiều khuynh hướng nhận thức khác nhau. Chính vậy, thuyết hậu nhân bản vừa đầy thách thức, vừa nhiều triển vọng.

Nhà lý luận phê bình Võ Quốc Việt

1. Là trào lưu tư tưởng đương đại, thuyết hậu nhân bản tồn tại nhiều luồng quan điểm phức tạp không thuần nhất. Có quan điểm cho rằng thuyết hậu nhân bản khởi đi từ sự phản giải nhân bản luận. Khuynh hướng này cho rằng: “tiền đề cốt lõi của hậu nhân bản luận chính là lập trường phê phán của nó đối với tư tưởng cho rằng nhân loại là chủng loài ưu việt trong trật tự tự nhiên”[3]. Do đó nó được xem là phản nhân bản luận; nhưng ý hướng phê phán này còn đi kèm ý hướng khắc phục, cải tiến. Thuyết hậu nhân bản không nhất thiết phủ nhận nhân bản luận. Thời kỳ manh nha, nó nỗ lực rà soát, xem xét những gì bị giảm trừ bởi nhãn quan lấy con người làm trung tâm. Theo đó, nó tiên báo tương lai nhân tính. Xuất phát từ băn khoăn về tính hợp lý và toàn hảo của con người trong nhãn quan nhân bản Phục Hưng-Khai Sáng, đó còn là nỗ lực vượt qua hạn chế cơ thể sinh học và siêu việt hóa nhân hình-nhân tính. Nó góp phần thúc đẩy quan niệm siêu nhân bản luận (tranhumanism). Việc này xảy ra trong các điều kiện nhất định và bao gồm chí ít hai diễn trình đã và vẫn đang tiếp tục xảy ra: (1) quá trình vượt giới định kiến “người”; (2) quá trình tái thiết bản dạng “người”.

Lại có quan điểm cho rằng thuyết hậu nhân bản khởi đi từ giải cấu trúc luận. Stefan Herbrechter định vị thuyết này từ sự mở rộng các luận đề giải cấu trúc và nhận thấy ở đó một số mô thức hậu nhân bản[4]. Cùng quan điểm này, còn có: Katherine Hayles với How We Became Posthuman: Virtual Bodies in Cybernetics, Literature and Informatics (1999); Elaine L. Graham với Representations of the Post/Human: Monsters, Aliens and Others in Popular Cultures (2002); Neil Badmington với Alien Chic: Posthumanism and the Other Within (2004); Cary Wolfe với What is Posthumanism?(2010); Rosi Braidotti với The Posthuman (2013); Jonathan Boulter với Posthuman Space in Samuel Beckett’s Short Prose (2019)[5]; …  Điểm chung dễ nhận thấy của các học giả này chính là sự trở lại với truy vấn về phía viễn cảnh và ảnh hưởng của tiến bộ khoa học công nghệ đối với nhân sinh-nhân hình-nhân tính[6]. Kỳ thực tiền đề truy vấn này đã được Martin Heidegger đặt ra trong Thư về nhân bản chủ nghĩa (Letter on Humanism)[7] và The Question Concerning Technology and Other Essays[8]. Theo hướng này, Francesca Ferrando cho rằng thuyết hậu nhân bản nảy sinh trong lòng và theo sau chủ nghĩa hậu hiện đại, khởi sinh từ việc giải cấu trúc triệt để khái niệm “người”. Hoạt động này xuất hiện như dự trình triết học và chính trị từ những năm cuối thập niên 1960 cho tới thập niên 1990 thì trở thành dự trình nhận thức luận[9]. Việc giải cấu trúc giúp thuyết hậu nhân bản tái nhận thức hiện thể “Khác” – những gì bị trung tâm hóa của nhân bản luận giảm trừ. Chính vậy, thuyết hậu nhân bản còn được xem như hệ thuyết đứng về phía “Cái Khác”. Nó gắn bó mật thiết với các nghiên cứu hiện thể ngoại vi, bên lề, phi trung tâm; nó chống lại các khuynh hướng trung tâm hóa, bá quyền, độc tôn. Con người bấy giờ trở thành quá trình với đa dạng khác biệt và bản sắc liên tục vận động biến đổi.

 

Bên cạnh tiền đề tư tưởng, thuyết hậu nhân bản còn khởi sinh từ thực tiễn thành tựu khoa học. Tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là từ sau thế chiến II, làm thay đổi sâu sắc diện mạo đời sống con người. Kéo theo đó, hiện thân và tương quan sống của con người cũng biến đổi triệt để. Bộ tứ lãnh vực chi phối mạnh mẽ tư tưởng hậu nhân bản: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano và khoa học nhận thức. Đáng nói, khoa học hầu như phá vỡ ranh giới sinh học người, mở ra triển vọng vô cùng to lớn đối với tiến hóa người; tất nhiên cũng tiềm ẩn nguy cơ đột biến khó kiểm soát. Việc này tác động mạnh mẽ đến toàn bộ tư tưởng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, đạo đức, … và can hệ trực tiếp cách tồn tại của mỗi người. Chính nó khiến thuyết hậu nhân bản trở nên thuộc vào quang phổ lãnh vực tương lai học; làm điểm tựa hỗ trợ con người nhìn lại lịch sử tồn tại trên hành tinh và đưa ra những tiên lượng cho tương lai.

2. Văn minh nhân loại đang trải qua thời kỳ biến đổi sâu sắc với gia tốc công nghệ gần đạt đến điểm kỳ dị. Ngay những năm đầu thế kỷ XXI, nhà tương lai học và lý luận siêu nhân bản – Ray Kurzweil – tuyên bố: điểm kỳ dị công nghệ đang đến gần[10]. Ông dự báo khoảng 2029 trí năng nhân tạo có thể bắt kịp trí năng sinh học và năm 2045 đạt tới điểm kỳ dị công nghệ[11]. Gia tốc công nghệ ngày càng lớn khiến quá trình hậu nhân bản hóa càng cam go. Nhu cầu tái quan niệm hiện tượng người vì thế càng cấp bách.

Xu hướng tái thiết tất yếu này phản ánh điều gì? Michel Foucault nhận thấy thực trạng dịch chuyển khái niệm người, đồng thời nhận ra giáo điều và định kiến trong giả thiết của nhân bản luận. Étienne Balibar làm rõ thêm nhận định của Foucault về định kiến “nhân bản” qua khái niệm “những phổ quát nhân học”[12]. Sự xuất hiện khái niệm hậu nhân bản về cơ bản là hồi ứng những bất cập của nhân bản luận vốn không còn phù hợp để khái niệm hóa con người trong thời đại mới với các biến thể mới. Chỉ ra những giáo điều nhân tính, thuyết hậu nhân bản không đơn thuần chỉ là sự phản ứng mà đúng hơn là sự tái thiết nhân bản luận. Đặc biệt, thuyết này xông thẳng vào tính tự thức, tự chủ, ưu việt và đặc quyền của con người trong các chiều kích tồn tại khác nhau. Do đó, không thể hiểu thuyết hậu nhân bản chỉ như là phản nhân bản luận; mà hơn thế thuyết này bao gồm trong đó quá trình: giải nhân tính hóa và tái tân nhân tính hóa. Diễn trình này xảy ra không ít lần trong lịch sử nhân loại. Biểu hiện dễ thấy là sự kiện chấn hưng trong các nền văn hóa khác nhau[13]. Nhân bản luận thời Phục Hưng là hậu nhân bản so với thời đại trước đó. Và hậu nhân bản hôm nay xem nhân bản luận Phục Hưng-Khai Sáng là vấn đề cần tái thiết để dẫn tới nền nhân bản tương thích hiện tượng người thời nay. Đây là xu thế tất yếu. Bản chất vận động thuyết hậu nhân bản không mới mẻ. Bản chất không mới nhưng thuyết này xảy ra trong tình thế, chiều kích và hệ trường lực mới.

Với sự phát triển bùng nổ mau lẹ của rất nhiều lãnh vực khoa học, với trường động lực của cách mạng công nghiệp 4.0 tầm nhìn 5.0, xã hội đặc trưng bởi nền văn hóa hậu nhân bản trở thành thực tiễn không thể tránh né. Cuộc chạy đua số hóa, chạy đua trí năng nhân tạo, chạy đua vào không gian, … tiếp tục khuếch trương văn hóa hậu nhân bản. Nghiên cứu văn hóa hậu nhân bản trở thành trào lưu sôi nổi, đa dạng, đa chiều. Bên cạnh nghiên cứu “cái khác”, thuyết hậu nhân bản gắn kết chặt chẽ với các nghiên cứu về môi trường-biến đổi khí hậu, nghiên cứu sức khỏe hành tinh, nghiên cứu nhân bản số, nghiên cứu về hậu tận thế, nghiên cứu tính bền vững, … Từ 2000 đến nay, thuyết hậu nhân bản phát triển nhanh chóng và mang lại nhiều đóng góp. Với khả năng lý giải thực tiễn và tiên lượng tương lai, thuyết này loang thấm nhiều lãnh vực: văn học, văn hóa, chính trị, đạo đức, kinh tế, xã hội, tôn giáo, pháp luật,… Dù muốn dù không, gia tốc công nghệ ngày càng lớn khiến con người đã và đang tiếp tục tiến bước sâu hơn vào nền văn hóa hậu nhân bản.

3. Trước khi nghiên cứu hậu nhân bản định hình như lãnh vực học thuật ảnh hưởng đến nhận thức thực tiễn đời sống thì, văn học hậu nhân bản đã có diễn trình phát triển đáng kể. Thậm chí, có thể nói văn học hậu nhân bản với nhiều tiên kiến đáng kinh ngạc đã mở đường cho khoa học công nghệ. Văn học không chỉ địa hạt thương thuyết mà còn bệ phóng tư tưởng tham gia vào kiến tạo tương lai.

Tiền cách mạng công nghiệp, yếu tố hậu nhân bản trong văn học ít nhiều biểu hiện qua mối quan hệ con người-vật dụng. Thời cổ Hy Lạp, Aristotle đặt vấn đề giải phóng sức lao động con người nhờ vật dụng “thông minh”. Việc tạo ra vật dụng “thông minh” tự thực hiện công việc được ông xem như biện pháp tối ưu giải phóng sức lao động nô lệ.

“Vì nếu mọi khí cụ có thể tự thân hoàn thành công việc của nó, tuân theo hoặc đoán trước ý muốn của người khác, giống như những bức tượng của Daedalus, hoặc những cái giá ba chân của Hephaestus, mà có nhà thơ từng nói, “tự biết bước vào nơi luận bàn của chư thần”, và nếu cũng tương tự như vậy, con thoi tự biết dệt, phím gảy tự biết đàn, thì người thợ cả không cần thợ phụ, cũng như chủ cả không cần nô lệ”[14].

Những suy nghĩ của Aristotle cơ hồ gợi tưởng thiết bị thông minh tự động hóa có khả năng giải phóng lao động. Đồng thời các thiết bị thông minh, trong suy nghĩ Aristotle, nối dài khả năng giúp người vượt qua giới hạn thể chất.

Thời Phục Hưng, Thomas More với Utopia (1516) phác họa viễn tưởng “địa đàng trần gian”, “hòn đảo không tưởng” (nên tác phẩm này được xem như một trong những dấu ấn tiên phong của dòng văn học giả tưởng). Ở đó, More bộc lộ vấn nạn nhân tính. Đó là nguồn cơn khiến cõi trần trở nên hỗn loạn. Trong vở Doctor Faustus (ra đời khoảng 1589-1593, được xuất bản năm 1604) của Christopher Marlowe, nhân vật John Faustus biểu tượng cho khát vọng vượt qua giới hạn người. Faustus bằng lòng giao kết với quỷ để nhận lại sự cung phục của Mephistopheles. Anh ta muốn lợi dụng ác quỷ để vượt qua hạn chế thân người, ngược lại tên ác ma càng cho Faustus nhận ra giới hạn thân người một cách nghiệt ngã. Ở trường hợp khác, hai nhân vật Caliban và Ariel – người tuân phục mệnh lệnh Prospero trong vở The Tempest (1610-1611) của William Shakespeare – gợi vấn đề siêu kết nối và tồn tại siêu vị trí. Đây là các “thực thể” có khả năng tồn tại như mạng lưới phân tán. Prospero sử dụng các “thực thể” này để sinh tồn trên đảo và thực hiện kế hoạch phục thù. Ông ta sai khiến hai nhân vật này vào nhu cầu thường nhật và những việc làm siêu nhiên mà người thường không có khả năng thực hiện. Đặc biệt Ariel là tinh linh (không giới tính) giúp Prospero kết nối với giới tự nhiên/siêu nhiên trên hòn đảo. Ariel sử dụng khả năng tích hợp của nó với các tồn tại khác trên đảo để thực hiện mệnh lệnh của Prospero. Nhưng Ariel và Caliban cũng bộc lộ tinh thần phản kháng trước sự kiểm soát của Prospero. Hư cấu của William Shakespeare tương đồng với suy tư về khả năng mất kiểm soát, nguy cơ AI tạo phản trong nhiều tác phẩm viễn tưởng đương đại. Ngoài ra New Atlantis (1626) của Francis Bacon, Gulliver’s Travels (1726) của Jonathan Swift,… cũng chứa đựng nhiều gợi tưởng hậu nhân bản. Một số dấu hiệu hậu nhân bản thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp đã thể hiện khát vọng vượt qua giới hạn sinh học người, đồng thời dự báo về trí thông minh đa liên kết và bộ phận giả hỗ trợ. Dù thời đại này vẫn đặt con người ở vị trí trung tâm nhưng đã tự nội sinh các yếu tố hậu nhân bản. Các yếu tố này phần nhiều phản ánh hai vấn đề: giới hạn/khiếm khuyết của con người và khát vọng giải phóng con người khỏi những ràng buộc đó, tức khát vọng trở nên nhân bản mới ưu việt hơn.

Đến thế kỷ XIX, văn học hậu nhân bản có bước phát triển mới nhờ tiến bộ khoa học làm thay đổi nhãn quan thực tiễn của người cầm bút. Mary Shelley (1797-1851) – nữ văn sĩ người Anh – nổi danh với tiểu thuyết Frankenstein: Or, The Modern Prometheus (1818) và truyện ngắn The Mortal Immortal (1833). Bà ảnh hưởng lớn đến thế hệ nhà văn viết tiểu thuyết khoa học viễn tưởng về sau. Trong Frankenstein, Tạo Vật của Mary Shelley là Quái Nhân/Phi Nhân/Phản Nhân/Cái Khác, hoặc chí ít nằm ngoài “tập xác định” của nhân bản luận. Đúc tạo từ “khoa học đen”, hắn khẳng định: hắn cũng là sinh vật sống và cũng cần có hạnh phúc. Đây là tuyên ngôn chính thức lần thứ nhất của Hậu Nhân. Tác phẩm của Mary Shelley vừa phơi bày vừa có khuynh hướng giải nhân trung tâm luận. Đồng thời, tác phẩm đặt ra quan tâm về chủng loài khác, mở rộng khái niệm chủng loài sống có trí khôn. Bên cạnh Mary Shelley, trong phạm vi thể loại tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, Herbert George Wells (1866-1946) cũng có vị trí và sức ảnh hưởng đáng kể. Trang phê bình, khảo luận, xã luận của ông cũng nhất quán với địa hạt hư cấu khoa học viễn tưởng. Ông có những bài bình luận tiên báo về “Hậu Nhân” rất đáng chú ý. Do đó có thể xem ông như một trong những nhà tương lai học tiên phong và nhà văn tầm cỡ trong dòng văn học phản ánh vấn đề hậu nhân bản từ cả hai phía: đặt điểm tựa cho cách quan niệm và tiên báo hậu nhân bản bằng cách kết hợp các thành tựu khoa học thực tiễn với khả năng tưởng tượng phi thường và tài tình, khiến sáng tác hư cấu khoa học viễn tưởng của ông có tính thuyết phục cao. Ông có những tiểu thuyết khoa học viễn tưởng nổi bật như:, The Island of Doctor Moreau (1896), The Invisible Man (1897), The War of the Worlds (1898); A Modern Utopia (1905), When the Sleeper Wakes (1910),… Trong đó, quyển The Time Machine (1895) đề cập đến bối cảnh hậu tận thế, quyển The Island of Doctor Moreau khắc họa nhân vật nhà khoa học “điên” tạo ra các dạng người-thú (chimeras) bằng phương pháp giải phẫu.

Với tinh thần khoa học viễn tưởng Gothic, đầu thế kỷ XX, các tác giả có khuynh hướng phê phán (nhưng không phải phê phán tính tự phụ về khả năng ưu việt của con người vốn khởi đi từ tư tưởng Khai Sáng) mà phê phán rủi ro công nghệ trong việc can thiệp định dạng nhân hình. Ý hướng này phần nào được trình bày trước đó bởi Nathaniel Hawthorne với The Birthmark (1843) và Rappuchini’s Daughter (1844). Qua đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết Brave New World (1932) của Aldous Huxley phác họa thế giới tương lai. Câu chuyện xảy ra vào năm 632 (AF) tức năm 2540 theo Tây lịch. Tác phẩm đề cập một số vấn đề: công nghệ sinh sản (con người được sinh ra từ tử cung nhân tạo) nhưng kèm theo đó là những nguy cơ tiềm ẩn. Đầu thế kỷ XX, thêm nhiều nhà văn bắt đầu “nghi ngại” những hứa hẹn và rủi ro công nghệ: Clare Winger Harris với The Evolutionary Monstrosity (1929); Edmond Hamilton với The Man Who Evolved (1931); Dorothy Quick với Strange Orchids (1937); Harry Bates với Alas, All Thinking! (1935); …

Cuối XIX-đầu XX, hình thức truyện hư cấu khoa học viễn tưởng kết hợp tư tưởng nữ quyền tạo ra dấu ấn độc đáo. Văn học Hoa Kỳ chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt cây bút nữ như: Elizabeth Burgoyne Corbett, Alice Ilgenfritz Jones, Ella Robinson Merchant, Charlotte Perkins Gilman,… Trong đó, Mary E. Bradley Lane (1844-1930) là nữ tác giả tiên phong của thể loại truyện khoa học viễn tưởng Hoa Kỳ. Đồng thời bà còn là nhà văn tiêu biểu của phong trào nữ quyền đầu thế kỷ XX. Tiểu thuyết Mizora của bà được đăng nhiều kỳ trong khoảng thời gian 1880-1881. Tác phẩm này thuộc trào lưu hư cấu phản địa đàng trong vài thập niên cuối thế kỷ XIX. Nó thuật lại câu chuyện “nữ nhi quốc” và sinh sản đơn tính. Dựa trên thuyết trái đất rỗng, thuyết ưu sinh, Mizora thể hiện niềm tin về thế giới tốt đẹp hơn khi không có đàn ông. Quyển Herland (1915) của Charlotte Perkins Gilman cũng đề cập xã hội “nữ nhi quốc” biệt lập, sinh sản đơn tính. Đó là xã hội nữ lý tưởng, ngầm ý không có đàn ông sẽ không có thống trị, không có chiến tranh. Elizabeth Burgoyne Corbett (hay Mrs. George Corbett) nổi tiếng với tiểu thuyết New Amazonia: A Foretaste of the Future (1889). Tác phẩm đề cập giả thiết thành công cải tiến xã hội, nơi phụ nữ tiến hóa thành chủng người Amazon phiên bản mới với tuổi thọ hàng trăm năm. Đó là xã hội nữ giới toàn trị ở tương lai. Leslie F. Stone với Out of the Void (1929) và Lilith Lorraine với Into the 28th Century (1930) phác họa xã hội mà việc sinh sản dưới sự chi phối và điều hành của phụ nữ sẽ tạo ra thế giới tốt đẹp, xán lạn và bất tử.

Từ nửa sau thế kỷ XX đến nay, hàng loạt tác giả xuất hiện khiến dòng văn học hậu nhân bản (trong mối quan hệ mật thiết với công nghệ) ngày càng vận động vào khu vực trung tâm của văn hóa đại chúng – đặc biệt khi văn học gắn kết chặt chẽ với điện ảnh. Những tác giả đáng chú ý: William Gibson (với Neuromancer, 1984), Bruce Sterling (với Crystal Express, 1989); Richard Powers (với Galatea 2.2, 1995), China Miéville (với Perdido Street Station, 2000); Michel Faber (với Under the Skin, 2000); Margaret Atwood với (với Oryx and Crake, 2003); David Mitchell (với Cloud Atlas, 2004); Kazuo Ishiguro (với Never Let Me Go, 2005, Klara and the Sun, 2021); Jeanette Winterson (với The Stone Gods, 2007); … Về mặt định vị, Jeff Wallace cho rằng văn học hậu nhân bản chí ít thực sự hiện diện trong sinh hoạt nghệ thuật ngôn từ khoảng gần cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Thời kỳ này có những vấn đề hậu nhân bản đáng chú ý: người máy ở thập niên 1980; mạng lưới kết nối ở thập niên 1990; vấn đề tuyệt chủng, sinh thái và tận thế những năm 2000; trí năng nhân tạo ở thập niên 2010; … Về nội dung, văn học hậu nhân bản chí ít phản ánh ba phương diện: (+) nhận thức nhân hình và nhân tính bất toàn với nhiều khiếm khuyết; (+) chủ đích chỉnh sửa tồn tại để cải tiến năng lực và giải phóng trí năng người; (+) niềm tin vào phương tiện khoa học công nghệ đối với sự phát triển nhân hình nhân tính đồng thời với nỗi nghi ngại về nguy cơ và thách thức do công nghệ đặt ra trong tương lai. Ba phương diện chủ yếu của văn học hậu nhân bản kéo theo hàng loạt giả thiết và truy vấn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức, giáo dục, …

4. Theo Stefan Herbrechter, Những Hiện Thể Phi Nhân Trung Tâm – mang ít nhiều ý hướng phê phán tồn tại thế giới – là đặc trưng cốt lõi của văn học hậu nhân bản[15]. Song dòng văn học này không chỉ phản trung tâm hóa mà hơn thế giải-phi trung tâm hóa. Điều này phản ánh tiến bộ trong nhận thức của con người vì chính vị trí của mình trong thế giới, dần tẩy trừ những hạn chế thiên lệch cố chấp trong tư duy lý trí thực chứng nông cạn của nhân loại. Trí tưởng tượng của con người vốn đã vượt xa khoa học. Bằng trí tưởng, con người đã phác họa nên tương lai. Bởi văn học có khả năng chuyển hóa “khát vọng người” thành ra “điềm báo người”. Lẽ đó, truyện khoa học viễn tưởng ngày càng được tương lai học chú ý và khảo sát một cách nghiêm túc. Ngoài ra, văn học hậu nhân bản phản ánh quá trình hậu nhân bản hóa được thúc đẩy và đồng thời với toàn cầu hóa và tình trạng phân rã, tình trạng chuyển biến mau lẹ của cục diện địa chính trị-địa kinh tế-địa chiến lược. Theo Boxall, đó là sự phân rã sâu sắc giữa sinh giới vật chất thực tế và các hình thức thẩm mỹ-chính trị-công nghệ mới nổi đang diễn ra trong các mối quan hệ toàn cầu[16]. Vấn đề này được nhà nghiên cứu khái niệm hóa bằng thuật ngữ sự hậu nhân bản hóa toàn cầu hóa (globalised posthumanisation).

Về ưu điểm trang văn, theo Katherine Hayles (1999):

“Văn bản khoa học thường làm được, điều mà văn học không thể, đó là việc biểu lộ các giả thiết nền tảng mang lại phạm vi lý thuyết và hiệu quả giả định đối với hướng tiếp cận cụ thể. Còn văn bản văn học thường làm được, điều mà công trình khoa học không thể làm được, đó là việc biểu lộ những vấn đề văn hóa, xã hội và biểu đạt phức tạp gắn liền với những bước ngoặt nhận thức và phát kiến công nghệ”[17].

Đánh giá về vai trò văn học hậu nhân bản, Robert Ranisch và Stefan Lorenz Sorgner cho rằng:

“Như một phương tiện phản ánh, văn học có vai trò rất quan trọng. Qua sự hỗ trợ của các văn bản hư cấu, ta có thể nghĩ tới viễn cảnh khác nhau, các cơ hội và rủi ro khả dĩ của siêu nhân bản luận trong phạm vi trần thuật cũng như hậu quả khả dĩ của những quan niệm phổ biến của chúng ta về “nhân tính” hay “bản chất con người””[18].

Những nhận định này góp phần cho thấy nghiên cứu văn học hậu nhân bản vừa cần thiết vừa nhiều triển vọng. Kèm theo đó hẳn có những thách thức nhất định: hoặc sa đà vào tinh thần lạc quan công nghệ trong việc chỉnh sửa và cải tiến tồn tại người; hoặc bi quan khủng hoảng trước tác động công nghệ đến nhân hình và nhân tính; hoặc vận dụng lý thuyết vào thực tiễn sáng tạo một cách khiên cưỡng và nông cạn. Không phải trang văn cứ giàu hàm lượng công nghệ là hậu nhân bản hóa; không phải cứ nhân hóa thực thể phi nhân loại là giải nhân loại trung tâm; không phải cứ giải cấu trúc ngôn ngữ và tích hợp-xuyên vượt ranh giới thể loại thì trở nên siêu vị hậu nhân; không phải cứ lai ghép xuyên loài thì trở nên cyborg hiện thân và nhân tính. Tất cả những biểu hiện nghệ thuật này nếu trở thành nơi ẩn nấp cho ý chí duy nhân trung tâm thì đều là ngụy hậu nhân bản. Kỳ thực, cốt tủy thực hành sáng tạo như thế vẫn đặt điểm tựa trên vị trí tồn tại của con người.

Kể từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và thứ hai, văn minh nhân loại đã bước vào đà lạm phát và tăng sinh tương tác; nhưng đồng thời suy giảm đáng kể các khả lực cô kết xã hội. Tiến bộ khoa học công nghệ cũng đồng thời thúc đẩy trí tưởng tượng con người. Chí ít từ đầu thế kỷ XIX, dòng văn học hậu nhân bản ghi dấu ấn với nhiều tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Giai đoạn nửa cuối XIX đầu XX, dòng văn học này càng phát triển mạnh mẽ và để lại nhiều thành tựu đáng kể. Đây là tiền đề nghệ thuật cùng với tiến bộ khoa học ở nửa sau thế kỷ XX khiến văn học hậu nhân bản phát triển sôi nổi. Từ hai thập niên cuối thế kỷ XX đến nay, văn học hậu nhân bản đã tích hợp cùng các loại hình nghệ thuật xuyên phương tiện trở nên diễn ngôn nghệ thuật và tư tưởng góp phần phát triển văn hóa đại chúng trên phạm vi toàn cầu.

5. Tựu trung, thuyết hậu nhân bản – một trào lưu tư tưởng phương Tây đương đại – vẫn đang tiếp tục vận động phát triển và lan tỏa nhiều phạm vi thực tiễn. Nó có những tiền đề sinh khởi nhất định. Phần đông học giới cho rằng thuyết hậu nhân bản khởi đi từ việc phê phán quan niệm con người trung tâm của nhân bản luận và khởi đi từ việc giải cấu trúc tập trung vào hiện tượng người. Nó biểu thị quá trình giải nhân tính hóa và tái tân nhân tính hóa diễn ra phổ biến trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại với chiều kích, phạm vi, mức độ khác nhau. Gia tốc công nghệ thời hậu công nghiệp lý giải tính tất định của xã hội hậu nhân bản với những đặc điểm văn hóa như bước chuyển khác của đời sống con người đầu thế kỷ XXI. Thuyết này còn phản ánh vận động thực tiễn và lý luận của thời đại hậu công nghiệp với chuyển đổi số, trí năng nhân tạo, công nghệ sinh học, … làm biến đổi toàn diện xã hội loài người.

Như quá trình hậu nhân hóa diễn ngôn nghệ thuật, văn học hậu nhân bản chí ít có hai chi lưu: văn học hậu nhân bản mang ý hướng giải nhân luận và văn học hậu nhân bản mang ý hướng tân nhân luận. Văn học hậu nhân bản mang ý hướng giải nhân luận như diễn ngôn phê phán, thách thức hai quan niệm của nhân bản luận: chủ nghĩa con người trung tâm và chủ nghĩa ngoại lệ người. Khuynh hướng này có thể hiểu như việc mở rộng và phi trung tâm hóa những gì vốn ở trung tâm của nhân bản luận. Nó là văn học của Cái Khác qua việc tái định vị triệt để bản tính người. Văn học hậu nhân bản mang ý hướng tân nhân luận phản ánh thông điệp gắn liền với hình tượng hậu nhân loại (như chủng loài khác/mới) liên quan đến biến đổi khí hậu, tuyệt chủng, trí năng nhân tạo, người máy, hậu kỷ nhân sinh, truy vấn thú tính, tương lai nhân/phi nhân, cyborg hóa, … song hành tiến bộ khoa học công nghệ đương đại. Nhờ đó có thể nói, văn học hậu nhân bản đã “giúp cho ta nghĩ tưởng các vấn đề, kiểm tra các hệ thống và giả thiết, cũng như mở rộng trí tưởng tượng của chúng ta”[19]. Trên lịch trình vận động phát triển của thuyết hậu nhân bản, trang văn không chỉ tấm kính phản quang mà còn kính vạn hoa phóng chiếu nhiều chiều kích giúp cộng hưởng và lan tỏa thuyết này vào nhiều lãnh vực nghiên cứu đa-liên-xuyên ngành hiện nay.

Rừng Dầu, 29.10.2023

VÕ QUỐC VIỆT

 __________________________________

[1] Gregory M. Grazevich (2002). Emerging Terminology in the MLA International Bibliography. MLA Newsletter (Spring 2002 Volume 34, Number 1), p.6.

[2] Rosi Braidotti & Maria Hlavajova (ed., 2018). Posthuman Glossary. London and New York: Bloomsbury, p.xiii.

[3] Ý kiến của Andy Miah trong công trình “A Critical History of Posthumanism” (2008). Dẫn theo: Francesca Ferrando (2019). Philosophical Posthumanism (Preface by Rosi Braidotti). UK: Bloomsbury Academic, p.23.

[4] Herbrechter, S. (2013). Posthumanism: A Critical Analysis. London: Bloomsbury.

[5] Jonathan Boulter (2019). Posthuman Space in Samuel Beckett’s Short Prose. Edinburgh: Edinburgh University Press, p.2.

[6] Stefan Herbrechter (2018). Critical Posthumanism. In Rosi Braidotti and Maria Hlavajova (ed., 2018). Posthuman Glossary. London and New York: Bloomsbury, p.95.

[7] Martin Heidegger (1974). Thư về nhân bản chủ nghĩa (Trần Xuân Kiêm dịch). Saigon: Tân An xuất bản, tr.14-16.

[8] Martin Heidegger [1953] (1977). The Question Concerning Technology and Other Essays. (trans. by Lovitt, W.). New York: Harper Torchbooks.

[9] Francesca Ferrando (2019). Philosophical Posthumanism (Preface by Rosi Braidotti). UK: Bloomsbury Academic, p.24.

[10] Ray Kurzweil (2005). The Singularity Is Near: When Humans Transcend Biology. USA: Viking Penguin.

[11] Ray Kurzweil (2022). Superintelligence and Singularity. In Machine Learning and the City: Applications in Architecture and Urban Design (ed. by Silvio Carta). USA: Wiley-Blackwell, pp.579-601.

[12] Étienne Balibar & Immanuel Wallerstein [1988] (1991). Race, nation, class: Ambiguous Identities (translation by Chris Turner). London and New York: Verso, p.56.

[13] Võ Quốc Việt (2022). Thử nghĩ về quá trình dã nhân hóa hay khử nhân tính hóa? Trang thông tin Hội Nhà văn Việt Nam. Trích xuất ngày 12/7/2022 (https://vanvn.vn/thu-nghi-ve-qua-trinh-da-nhan-hoa-hay-khu-nhan-tinh-hoa/).

[14] Dẫn theo: Bruce Clarke & Manuela Rossini (2017). The Cambridge companion to literature and the posthuman. New York: Cambridge University Press, p.17.

[15] Stefan Herbrechter (2020). “Posthuman/ist Literature? Don DeLillo’s Point Omega and Zero K”, Open Library of Humanities 6 (2), 18.

[16] Peter Boxall (2013). Twenty-First-Century Fiction: A Critical Introduction. Cambridge: Cambridge University Press, p.9.

[17] Katherine Hayles (1999). How we became posthuman: virtual bodies in cybernetics, literature, and informatics. Chicago & London: The University of Chicago Press, p.24.

[18] Robert Ranisch & Stefan Lorenz Sorgner (eds., 2014). Post- and transhumanism: an introduction (first edition). New York: Peter Lang Edition, p.268.

[19] Annas, G. J. (2010). Worst Case Bioethics: Death, Disaster, and Public Health. Oxford: Oxford University Press, pp. xx-xxi.

 



Tin tức khác

· NHỚ HOÀNG TRẦN CƯƠNG LẠI NGHĨ VỀ TRƯỜNG CA 'LONG MẠCH'
· CHUYỆN THÊM VỀ ÔNG HOÀNG BẢO ĐẠI
· THÁI BÁ LỢI - TỪ QUÂN Y SĨ ĐẾN NHÀ VĂN
· NGƯỜI ĐI TIM 'BỤI ĐỎ' ĐÃ HÓA THÂN VÀO 'CÁT BỤI' PHẬN NGƯỜI - Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH
· DỐC IM LẶNG - THƠ CỦA MỘT HỌA SĨ - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· BẮT GẶP HAI VIÊN SỎI QUÝ VÙNG THẤT SƠN
· HỒ SƠ MẬT CỦA PHÁP NÓI GÌ VỀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ CỦA VIỆT NAM?
· VỊ ĐÌNH NGUYÊN CUỐI CÙNG TRONG LỊCH SỬ KHOA BẢNG VIỆT NAM LÀ AI?
· VỀ LẠI GA XÉP
· MIỀN BẮC VIỆT NAM THẾ KỶ XIX QUA ỐNG KÍNH CỦA BÁC SĨ QUÂN Y NGƯỜI PHÁP
· BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM GIỮA CUỘC ĐỜI
· THƠ NAM THANH - LAN TỎA TỪ TĨNH LẶNG - Tiểu luận HỒ THẾ HÀ
· DẤU ẤN CỦA THỦ LĨNH ĐỘI CẤN VÀ KHỞI NGHĨA THÁI NGUYÊN TỪ 6 BÀI THƠ CỦA NGÔ ĐỨC KẾ -Tiểu luận PHÙNG VĂN KHAI
· TRỊNH CÔNG SƠN VÀ SỰ HIỆN HỮU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN NGHỆ MIỀN NAM 1954 - 1975 -Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH
· NHỮNG NGỌN ĐÈO THẮP SÁNG THƠ CA - Tiểu luận NGUYỄN VŨ TIỀM
· CHO NGÀY 30 THÁNG 4 - CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ
· GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG LÀ GIỖ VỊ VUA NÀO?
· MỘT ĐÊM MƯA ẤM VỚI NHÀ THƠ HOÀI VŨ
· ĐÃ ĐẾN LÚC ĐƯA DANH NHÂN NGUYỄN QUANG BÍCH RA THẾ GIỚI
· NGUYỄN THÁI HẢI - KHÔI VŨ: NGƯỜI LẮNG NGHE TIẾNG NÓI NỘI TÂM

Tin tức mới
♦ CHÙM THƠ TRẦN HOÀNG VŨ NGUYÊN - EM NHƯ MẶT TRỜI CỦA NÚI TỰ GIẤU ĐI (14/05/2026)
♦ NHỚ HOÀNG TRẦN CƯƠNG LẠI NGHĨ VỀ TRƯỜNG CA 'LONG MẠCH' (14/05/2026)
♦ CHUYỆN THÊM VỀ ÔNG HOÀNG BẢO ĐẠI (14/05/2026)
♦ THÁI BÁ LỢI - TỪ QUÂN Y SĨ ĐẾN NHÀ VĂN (14/05/2026)
♦ NGƯỜI ĐI TIM 'BỤI ĐỎ' ĐÃ HÓA THÂN VÀO 'CÁT BỤI' PHẬN NGƯỜI - Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH (11/05/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2030627
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 103780
Truc tuyen Trực tuyến: 8

...

...

Designed by VietNetNam