• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
TRẦM HƯƠNG CỦA GÓA PHỤ - Tiểu luận VƯƠNG TRỌNG

TRẦM HƯƠNG CỦA GÓA PHỤ - Tiểu luận VƯƠNG TRỌNG



NGUỒN: Vanvn-Cập nhật ngày: 20 Tháng 10, 2023 lúc 07:08

 

Mỗi lần được đọc những bài thơ, tập thơ của một góa phụ là tôi nghĩ đến cây giấy dó và trầm hương. Rừng có hàng ngàn loài cây, cây nào khi bị vết thương, đặc biệt là những vế thương sâu, thì cũng phải chịu đựng nỗi đau, chống chọi để tốn tại, may ra còn hồi phục và phát triển. Khi vết thương lành thường để lại những cái sẹo không mong muốn. Riêng cây giấy dó, vết sẹo đó lại vô cùng quý giá: trầm hương!

Nhà thơ Vương Trọng – tác giả bài viết

Người phụ nữ nào khi thành lập gia đình cũng mong muốn một mái nhà êm ấm, vợ chồng gắn bó trọn đời, nếu không “bách niên giai lão” thì cũng “đầu bạc răng long”. Chuyện “đứt gánh giữa đường”, bất ngờ người chồng qua đời để lại vợ trẻ là nỗi kinh hoàng lớn nhất đối với người phụ nữ. Nhưng cũng có không ít người phụ nữ trở thành nhà thơ từ nỗi kinh hoàng này. Nguyễn Du từng viết: “Ngổn ngang trăm mối bên lòng/ Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình”. Nghĩa là lòng có “ngổn ngang trăm mối” thì mới sinh ra “câu tuyệt diệu” được, mà thử hỏi có lòng ai “ngổn ngang trăm mối” bằng người góa phụ, nên họ viết được những câu thơ hay, bài thơ hay và trở thành nhà thơ cũng không có gì lạ. Có thể có người hỏi: đất nước ta qua mấy cuộc chiến tranh, góa phụ có hàng chục vạn, sao nhà thơ nữ lại ít thế? Dễ trả lời thôi: tỷ lệ những người phụ nữ sẵn tâm hồn thi ca so với toàn bộ phụ nữ cũng giống như tỷ lệ những cây giấy dó so với cây rừng. Trầm hiếm và thơ hay cũng như nhà thơ không nhiều vì lẽ dó.

Từ nhỏ tôi đã được nghe rồi thuộc lòng một bài ca truyền khẩu nói về tâm tình của người mẹ góa: “Đêm nằm than thở cùng con/ Thương tình kể nỗi nước non đường dài”... Nội dung bài ru là lời trách duyên trách phận, trẻ trung phải gánh chịu cô đơn, nhớ thương người quá cố và chống chọi với sự tấn công của những người đàn ông để giữ trọn  “tiết hạnh khả phong”. Nhìn chung, đó cũng là nội dung  chủ yếu tác phẩm của các góa phụ ở những tập thơ đầu tay của họ, tuy nhiên thời thế thay đổi, nội dung thơ cũng thay đổi đi nhiều.

Tôi đinh ninh rằng, những bài thơ đầu tiên người phụ nữ sáng tác sau khi trở thành góa phụ là viết về người chồng quá cố với dạt dào nỗi nhớ, niềm thương và bộn bề kỷ niệm. Nhưng thời gian qua đi nhiều năm, có biết bao công việc và mối quan hệ ùa vào đời sống thường nhật, tất nhiên nỗi thương nhớ đó không còn thường trực nữa, mà chỉ xuất hiện trong những ngày đặc biệt như ngày sinh nhật, ngày giỗ của chồng, hoặc có khi đêm vắng tỉnh dậy nghĩ đời mình:

Duyên trời se kết cùng anh

Nửa đường gẫy gánh, em thành đơn côi

Bao đêm thổn thức bồi hồi

Nhớ anh đã mấy năm trời không yên …

(Có nghe)

Bất ngờ đứt một nửa anh

Nửa em đứng lại để thành đơn côi!

Giật mình nhìn bóng mình ngồi

Tưởng như chiếc lá xé đôi trong màn.

(Tự nhiên lại ước)

Nhớ anh nội ngoại ngậm ngùi

Khói hương chẳng nói hết lời trái tim

Em như sợi chỉ không kim

Mong anh thấu hiểu lòng em tháng ngày.

(Khấn anh ngày giỗ)

Nghĩa là người góa phụ dần dà làm quen dần với sự thiếu vắng của người chồng, nhưng nỗi cô đơn thì muôn hình vạn trạng, thường nhật phải đối diện, và cũng là chủ đề quan trọng của tập thơ. Khó mà thống kê hết những khổ thơ diễn tả nỗi cô đơn, trống trải trong “Thì thầm”:

Ngồi buồn đếm giọt chuông chùa

Đếm thanh xuân rụng đếm mùa trăng rơi

Dấu hôn lửa táp vành môi

Cháy năm tháng cũ, cháy lời thương yêu.

(Đếm giọt chuông chùa)

Xé đêm làm mảnh khăn quàng

Mà đếm vẫn lạnh, lá vàng vẫn bay

Trải yêu làm tấm thảm dày

Trải thương làm gối như ngày bên nhau

(Sông mơ)

Quanh ta mùa đông vây bọc

Tìm đâu hơi ấm đêm nay

Lén mở cửa phòng thật khẽ

Sợ chăn gối vạ buồn lây.

(Vu vơ)

Có bao nỗi lạnh đơn côi

Đêm nay thấm cả vào tôi buốt lòng

Thơ buồn vật vã gối không

Chữ lăn chữ lóc mênh mông nửa giường

Người ơi sao chỉ gió sương…

 (Lời yêu là thật hay đùa)

Đọc những dòng thơ này, ngoài việc liên tưởng tới cái lạnh trong ca dao : “Lạnh lùng thay, láng giềng ơi/ Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều”, tôi chợt nhớ lại một bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, đầu đề “Dạ hành”, viết về một người đi đêm, có câu “ Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân” : trên con đường nhỏ, gió lạnh dồn hết vào một người. Còn ở đây, trên chiếc giường rộng, người góa phụ chịu “ bao nỗi lạnh đơn côi”! Mà lạnh cô đơn còn đáng sợ hơn gió lạnh, bởi “ Lạnh trời còn dứt từng cơn/ Lạnh lòng cứ dữ dội tuôn bốn mùa”!

Tập thơ “Thì thầm” của Trịnh Lan Oanh

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (TK), người lạnh, cảnh cũng lạnh, góa phụ nhìn cây bàng mùa đông mà nghĩ đến thân phận của mình:

Cây bàng một mình góc phố vào đông

Cơn buốt lạnh hăn hắt qua cành lá

Nghiêng hết mình phía nào cũng gió

Lá xạc xào thon thót tiếng xuân rơi.

Nhưng từ cây bàng, trong lòng chị bắt đầu nhen một tia hy vọng: “Mở hết cửa chờ tia nắng mới/ Thắp cạn mình đợi tiếng chân quen” (Đợi).

Thì ra cái gì cũng có giới hạn, kể cả sự cô đơn. Con người có thể chịu đựng đến một mức nào đó, một lúc nào đó, dù chỉ mới trong ý nghĩ, trong tình cảm, họ đã muốn phá bỏ sự giam cầm, nhưng lý trí ngăn họ lại, bắt họ tiếp tục chịu đựng:

Thu tàn mình vẫn không nhau

Heo may trở chứng quất đau nỗi chờ

Gió lay giật cửa khép hờ

Ngỡ tay ai vịn xuống bờ vai sương

Mòn đêm dõi một con đường

Muốn lao ra khỏi chiếu giường để yêu

Một mình cũng cuộn thủy triều

Nhấn chìm đêm bởi những điều khát khao.

(Không nhau)

Điệp khúc “không nhau” này còn trù mật trong những tiếng “Thì thầm”, qua đó, người đọc đồng cảm với tác giả, thông cảm sự chịu đựng, và cả với sự “nổi loạn tức thời” như “muốn lao ra khỏi chiếu giường để yêu”!

Trong bài Giặm dân gian“Lời mẹ góa ru con”, sau khi than thở với con về cảnh cô đơn mình phải gánh chịu, người mẹ nói về việc mình phải cư xử như thế nào khi những người đàn ông có tình ý với mình: “Mẹ thấy người ta chờm chợ/ Mẹ thủ thiêt lòng son/ Mẹ ngồi lại nuôi con..”. “Chờm chợ” là một từ cổ chỉ chuyện những người đàn ông chọc ghẹo, tán tỉnh… những góa phụ. Người mẹ trong bài dân ca thì “thủ thiết lòng son”, còn tác giả “Thì thầm” thì sao?

Khi có một người đàn ông có tình cảm với chị, ngỏ ý muốn đến thăm nhà, chị đã chối khéo:

Lâu rồi nhà vắng đàn ông

Xin anh đừng trách em không mặn lời

Khách nhà chỉ phụ nữ thôi

Mấy người cùng cảnh ghé chơi tầm phào…

(Lâu rồi nhà vắng đàn ông)

Nhà thơ Trịnh Lan Oanh ở Thanh Hóa

Đoạn sau của bài thơ là lời giải thích: vì lâu không có khách đàn ông, nên chè thuốc không có để tiếp anh, nhưng thực chất là ngại tiếp đàn ông rồi sinh dị nghị…, mặc dù em cũng muốn có khách như thế! Đọc kỹ bài thơ thì thấy lời từ chối này cũng có ý mở đường cho khách tìm đến, đồng thời “ lâu rồi nhà vắng đàn ông” không chỉ nói chuyện mình ở góa đã lâu, mà muốn thông tin cho người khách này biết là mình chưa có khách nam nào đến nhà! Giá như người đàn ông kia không “đọc” được ý đó, rồi đoạn tuyệt ý định tìm đến nhà chị thì sai lầm chẳng kém gì chàng trai trong bài thơ “Em bảo anh đi đi/ Sao anh không đứng lại”!

“Lâu rồi nhà vắng đàn ông” cũng là cánh cửa mở ra những bài thơ tình trong tập này. Đại từ nhân xưng “Anh” xuất hiện nhiều lần trong nhiều bài, ở những hoàn cảnh khác nhau. Có khi đại từ đó chỉ một người cụ thể trong một mối tình cụ thể, nhưng không loại trừ đó chỉ là một chữ “Anh trữ tình” do tác giả nghĩ ra để nói tình cảm, cũng như thái độ của mình trong tình yêu. Bạn đọc không nên cố phân biệt rạch ròi mối tình nào là thật, mối tình nào do hư cấu, tưởng tượng nên, mà nên mừng vì gặp ở đây những câu thơ hay:

“ Người ơi sao chỉ gió sương

Càng ghì níu chặt càng thương tim mình

Cháy lòng nuôi một chữ tình

Càng nuôi hy vọng càng thành cô đơn”

( Lời yêu là thật hay đùa).

Hay:

“Anh mới nghe gió thoảng mùi hương

Mới nhìn thấy gió lay làn tóc rối

Anh chưa thấy khi gió xô đổ núi

Làm ngả nghiêng lật đắm những con tàu”

(Anh làm sao mua nổi gió dậy thì)

Hoặc:

“Anh bảo tình ta như hoa gạo

Khát vọng tình yêu nở rực trời

Nụ hôn bừng cháy hình ngọn lửa

Bông hoa nào cũng trái tim thôi”

…

Lời yêu thuở ấy còn vỗ sóng

Vỡ vào tim em những cánh hồng

Đêm qua em cháy thành hoa gạo

Rơi mảnh ngày xưa bỏng rộp lòng”.

(Hoa gạo)

“Thì thầm” là tập thơ thứ hai của Trịnh Lan Oanh đã xuất bản, nghĩa là chị sáng tác đã nhiều. Vậy nên ngoài chuyện bộc bạch lòng mình trong nỗi cô dơn, trong tình yêu, chị còn viết về gia đình, quê hương và xã hội… Ở những bài thơ này, một phần ta thấy được tình cảm của tác giả đối với những người thân trong gia đình, trách nhiệm của một công dân đối với đất nước, xã hội. Mặc dù về mặt  nghệ thuật, phần thơ này không có gì nổi trội, không mượt mà, tinh tế như khi chị tả cảnh mùa thu:

Gót chiều dào dạt sóng lay

Đã nghe Thu đến ngập đầy lối qua

Vườn ai lạc mấy tiếng gà

Khói lam mấy dải vắt qua nắng chiều …

(Gửi thu)

Chỉ có cây giấy dó mới biến vết thương lòng thành trầm hương, cũng như chỉ có người phụ nữ ủ sẵn tâm hồn thi ca mới biến nỗi đau góa phụ thành thi ca. Tất nhiên số lượng, chất lượng trầm hương sản sinh từ mỗi cây giấy dó khác nhau, cũng như  sự khác nhau về thi phẩm của các nhà- thơ- góa- phụ.

Trịnh Lan Oanh viết nhiều thể thơ, nhưng hình như lục bát là sở trường của chị. Là một người có tâm hồn hướng nội, nên chị viết về chuyện của bản thân mình hay hơn khi viết về người khác. Ngôn ngữ thi ca của chị giản dị, nhưng khá chắt lọc trong thể lục bát. Và, hình như chị là người có cá tính mạnh, có khi quyết liệt, mới tạo ra những câu thơ  ấn tượng như  “Tiếng thì thầm vỡ ngực phía không nhau” và:

Anh không đủ can đảm nuôi một ngọn gió đâu

Lồng ngực anh không phải buồng của gió

Chỉ đủ chỗ xếp vài ba lá cỏ

Anh làm sao nuôi nổi gió dậy thì!

Chắc trận “gió dậy thì” ấy đã thổi “Anh” ấy ra xa, còn chúng ta ở lại thưởng thức sản phẩm trầm hương này và chúc mừng sự thành công của chị!

Hà Nội, tháng 5.2023

VƯƠNG TRỌNG 



Tin tức khác

· TRẬN ĐỊA KÝ ỨC VÀ Ý THỨC HỆ CỦA VIỆC ĐỌC 'NỖI BUỒN CHIẾN TRANH' - Tiểu luận ĐOÀN ÁNH DƯƠNG
· NGUYỄN DU VÀ TIẾNG NGHỆ - Tiểu luận VƯƠNG TRỌNG
· 'ĐỜI DU NGƯ' - TRI THỨC VÀ CĂN TÍNH BẢN ĐỊA - Tiểu luận TRẦN BẢO ĐỊNH
· THƠ PHAN HOÀNG - NHỮNG ÁM ẢNH CUỒNG PHONG, BÃO LŨ - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· PHẠM ÁNH SAO 'ĐI DỌC MÙA THƯƠNG' - Tiểu luận MAI VĂN PHẤN
· TẠI SAO VĂN CHƯƠNG MURAKAMI LẠI HẤP DẪN ĐẾN THẾ?
· HỮU LOAN - NHÀ THƠ MỘT THỜI
· CẦN VINH DANH NGƯỜI CÓ CÔNG ĐẶT NỀN MÓNG ĐÀNG TRONG
· LỊCH SỬ BỊ BÓP MÉO, PHÁP LUẬT BỊ BẺ CONG
· NHÀ THƠ XUÂN HOÀNG - LÒNG TÔI THÀNH CÁNH GIÓ LUNG LINH
· NHƯ LÀN HƯƠNG VÀ GIỌT SƯƠNG MAI - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· TỪ BỤC GIẢNG ĐẾN TÁC PHẨM - HÀNH TRÌNH LAN TỎA YÊU THƯƠNG
· VỊ THÁM HOA NÀO 10 NĂM GIỮ CHỨC TỂ TƯỚNG KHIẾN THIÊN HẠ YÊN VUI!
· BA NHÂN VẬT CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ XUẤT HIỆN TRONG MINH GIÁO GỒM NHỮNG AI?
· VÌ SAO KINH THÁNH KHÔNG HỀ NHẮC ĐẾN KIM TỰ THÁP AI CẬP?
· NHỮNG GIỌT SƯƠNG BAN MAI TINH KHIẾT - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· 'NHIỆM VỤ BẤT KHẢ THI' CỦA NỮ TÌNH BÁO MANG BÍ SỐ B3 CÙNG ĐIỆP VIÊN PHẠM XUÂN ẨN
· VÌ SAO LÊ ĐẠI CANG ĐƯỢC XEM LÀ 'BẬC HIỀN TÀI TOÀN NĂNG' CỦA TRIỀU NGUYỄN?
· LẮNG NGHE ƯU TƯ CỦA HIỀN GIẢ - Tiểu luận HỒ ANH THÁI
· NGÀN NĂM CHĂM PA TRONG VĂN HÓA XỨ QUẢNG

Tin tức mới
♦ 50 TÁC PHẨM VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ĐƯỢC VINH DANH (06/12/2025)
♦ TRẬN ĐỊA KÝ ỨC VÀ Ý THỨC HỆ CỦA VIỆC ĐỌC 'NỖI BUỒN CHIẾN TRANH' - Tiểu luận ĐOÀN ÁNH DƯƠNG  (06/12/2025)
♦ NGUYỄN DU VÀ TIẾNG NGHỆ - Tiểu luận VƯƠNG TRỌNG (06/12/2025)
♦ CHÙM THƠ LÊ TIẾN VƯỢNG - BAO GIỜ RŨ ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU DẠI - KHÔN (04/12/2025)
♦ CÓ HẸN VỚI CẨM GIÀNG - Bút ký PHONG ĐIỆP (04/12/2025)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1822713
Trong thang Trong tháng: 172474
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 70765
Truc tuyen Trực tuyến: 3

...

...

Designed by VietNetNam