TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
XÉCGÂY ALECXANGĐRÔVICH EXÊNHIN - Tiểu luận NGUYỄN VĂN GIAI
XÉCGÂY ALECXANGĐRÔVICH EXÊNHIN - Tiểu luận NGUYỄN VĂN GIAI
VIỆT THƯƠNG NGUYỄN VĂN GIAI
(1933 - 2010)
Quê quán: Nghĩa Hành, Quảng Ngãi
Là chuyên gia Văn học Nga, giảng viên đại học
Hội viên Hội VHNT Bình Định
***
XÉCGÂY ALECXANGĐRÔVICH EXÊNHIN
(1895-1925)
I. Vài nét vể cuộc đời của thi sĩ
Nhà thơ Exênhin sinh ngày 3/10/1895 ở Riadan, miển Trung nước Nga. Ông gắn bó với nông thôn và tiếp thu mạch nguồn vǎn hoá dân gian từ rất sớm. Ông ngoại của nhà thơ là người hát dân ca giỏi; bà ngoại ông biết nhiều chuyện cổ tích, hay kể cho cháu nghe; mẹ ông cũng là một ca sĩ nổi tiếng. Giữa những ngày thơ ấu, tác phẩm Chuyệnvề đạo quânIgo từng gây ấn tượng sâu đậm trong tâm hôn cậu bé Xecgây.
Từ năm 1909 đến năm năm 1912, Exênhin học trường dòng, chuẩn bị cho việc dạy ở chủng viện. Năm 1913, ông lên Matxcơva học tiếp và tham gia các câu lạc bộ thơ, nhạc của các thi sĩ trẻ. Nhà của ông bị chính quyền đương thời lục soát vì ông ủng hộ những người bônsêvic. Năm 1914, bài Thợ rèn được in trên báo Conđườngsự thật (sau này là báo Sự thật). Năm 1915, ông bị gọi nhập ngũ. Đến tháng 2/1917, Exênhin xuất ngũ. Cách mạng tháng Mười thành công, thi sĩ đứng về phía những người bônsêvic.
Trong khoảng thời gian từ năm 1922 đến năm 1923, ông đi du lịch với Aixêđôra Đuncan (1878 - 1927), sang Đức, Pháp, Bỉ, Ý và ở Mỹ 4 tháng. Đây là giai đoạn có nhiều ảnh hưởng đến sáng tác của Exênhin.
Năm 1924, ông vể nước, đi đến vùng núi Kapkaz, viết được nhiều tác phẩm.
Vào tháng 9/1925: xảy ra bi kịch thứ 12 trong đời Exênhin. Ông bị toà án xét xử với tội danh đánh lộn và vi phạm trật tự trị an. Mặc dù Bộ trưởng Văn hoá A.V. Lunatraxki can thiệp, xin bảo lãnh cho nhà thơ trẻ nhưng Tòa án và Ủy ban đặc biệt vẫn kiên quyết truy tố. Bạn bè phải đưa ông vào nhà thương điên để lánh nạn. Ngày 26/11/1925, Ganuskin làm thủ tục nhập viện cho ông. Ngày 28/11, ông viết bài Cây phong rụnglá. Cũng trong ngày hôm đó, cảnh sát đặc biệt đã tìm tới bệnh viện thần kinh. Đến ngày 21/12, Exênhin trốn khỏi bệnh viện về Lêningrat. Ngày 25/12, ông tự sát sau khi viết bài thơ tuyệt mệnh, trong đó có hai câu kết:
Trong cuộc đời, chết có gì đâu là mới
Nhưng rõ ràng, sống cũng chẳng gì mới hơn.
Cái chết của ông ảnh hưởng lớn đến không ít thanh niên lúc bấy giờ và làm xuất hiện “bệnh Exênhin”.
II.Các giai đoạn sáng tác
1. Trước Cách mạng tháng Mười 1917
Exênhin là nhà thơ ấn tượng (ấn tượng trực giác). Hình ảnh nông thôn, người nông dân, phong tục tập quán, đời sống văn hoá, phong cảnh quê hương hiện lên rõ nét trong thơ ông. Đó là những âm thanh, màu sắc, hình ảnh hoa cỏ, thú vật đầy sức truyền cảm. Giọng thơ Exênhin tha thiết nhưng buồn, như chính thực tế buồn đau của nông thôn Nga. Tuy cùng viết về nỗi buồn nông thôn, nhưng Exênhin khác với Nguyễn Bính. Nếu Nguyễn Bính từ thành thị vọng về nông thôn thì Exênhin lại từ nông thôn hướng ra thành thị. Một trong những bài thơ cảm động của ông là Bài hát về conchó, nói về tình cảm của chó mẹ, nỗi thiết tha rồi thất vọng khi chó mẹ nhìn lên trời cao. Đấy là một trái tim nhạy cảm, khổ đau. M. Goocki nhận xét: “Theo quan điểm của tôi, anh ấy là người đầu tiên trọng văn học Nga viết về loài vật với một tình yêu chân thành đến như thế”.
Tình yêu người, yêu vật, yêu quê hương xứ sở, đó là tất cả những gì dẫn đến tình yêu đối với nước Nga. Thi sĩ không giấu giếm: Tôi yêu nước Nga đến sướng vui và đau khổ. Trong Đại chiến thế giới lấn thứ nhất, ông viết bài thơ Nước Nga. Ông nói lên nỗi buồn đau vì số phận của nước Nga, người nông dân Nga bị lôi vào cuộc chiến. Cho dù sau này có sống ở thành thị thì nông thôn vẫn trọn vẹn trong trái tim ông. Exênhin vẫn giữ mối liên hệ tình thân với quê hương nơi ông sinh trưởng.
2. Sau Cách mạng tháng Mười 1917
Giai đoạn từ năm 1917 đến năm 1924 là giai đoạn mới trong sáng tác của Exênhin. Ông hoan nghênh, tin vào tương lai cách mạng. Đề tài cách mạng, hình ảnh người công nhân được đưa vào sáng tác (trường ca Đồngchí). Nhiệt tình lăng mạn thể hiện trong bài Ngườiđánh trống trên trời (1918). Bài ca về cuộc hành quân vĩ đại (1924) lại thể hiện một quá trình tìm hiểu cách mạng chân thành và sâu sắc.Trước đó, để hiểu rõ cách mạng hơn, ông đã chú ý đến những vấn đề của quá khứ. Pugatsôp (1921) là một trường ca lịch sử dựa trên truyền thống sáng tác nhân dân. Chủ đề của tác phẩm là cuộc đấu tranh xã hội. Ở đây, chất sử thi và chất trữ tình đã hoà quyện vào nhau.
Có điều là Exênhin cũng không tránh được những mâu thuẫn, sai lầm. Ông cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ tạo nên một kiểu “thiên đường mugic” không tưởng cho nông dân, xã hội tương lai sẽ là vương quốc của kĩ thuật, máy móc; chúng lấn át sự tinh vi, tế nhị trong tâm hồn của con người. Xã hội mới như “đoàn kị binh bằng sắt thép áp đảo những con ngựa thật”, và nông thôn Nga giống như chú ngựa con chạy theo đoàn tàu lửa để cuối cùng kiệt sức. Từ đó, ông thất vọng và rơi vào một thái cực khác.
Vậy là mâu thuẫn được bộc lộ trong thơ ca. Một mặt ông tin vào nước Nga, vào tương lai của nhân dân Nga, không bao giờ muốn rời bỏ nó:
Ôi! Nếu thiên thần lên tiếng gọi
Bỏ nước Nga lên sống ở thiên đường
Tôi sẽ đáp: Thiên đường thôi để đấy!
Cho tôi xin ở cùng Tổ quốc yêu thương.
Mặt khác, ông lại lo lắng, buồn đau vế “nỗi cũ kĩ của nông thôn Nga”. Đặc biệt, trong thời kì đất nước thực hiện “Chính sách kinh tế mới” (NEP), nhà thơ mãi loay hoay không xác định được vị trí của mình trong cuộc sống mới. Ông nhìn rõ những mâu thuẫn gay gắt giữa nông thôn và thành thị. Nông thôn cũ chắc chắn không tồn tại nữa nhưng Exênhin không muốn và không thể từ bỏ những thói quen, những ấn tượng đã tích tụ từ hàng bao nhiêu thế hệ trước đó. Exênhin gọi mình là “nhà thơ nông thôn Nga cuối cùng'.
Sau chuyến đi thăm nước ngoài về, thi sĩ khẳng định mình rō hơn. Ông yêu thích công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ông từng nói: “Chỉ có làm việc, chỉ có lao động mới là cần thiết”, nếu không thì nông thôn, quê hương, quá khứ nghèo nàn sẽ không có lối thoát. Đất nước đã có nhiểu đổi thay đáng kể và thơ ông đã nói về sự thay đổi ấy. Chính những bài Trở lại Tổ quốc (1924), Nước Nga Xô viết (1924) đều có chung một tư tưởng chủ để, qua đó càng khẳng định tấm lòng ông đối với quê hương xứ sở.
Dù sao, ông vẫn cứ băn khoăn, trăn trở, dằn vặt để tìm hiểu Tổ quốc, tìm hiểu cách mạng một cách hết sức chân thành. Ông có niềm say mê của một nghệ sĩ nhưng thiếu sự tỉnh táo cần thiết của một nhà chính trị.
Giai đoạn sáng tác cuối cùng của ông nằm trong khoảng thời gian 1924 - 1925. Đây là thời kì sáng tác phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức, tạo ra một đỉnh cao mới trong thơ ca Nga - Xô viết. Ông viết hàng trăm bài thơ, nhiều gấp đôi tổng số bài thơ của sáu năm trước đó. Đó là những bài thơ tập hợp trong chùm Những môtip Ba Tư, trường ca Anna Xnhêghina (1925) và nhiểu bài thơ riêng lẻ khác. Những sáng tác trong giai đoạn này có nhiều nét buổn; tuy vậy, có thể nói đây là loạt bài thơ trữ tình tâm lí hoàn chỉnh ít thấy trong thơ ca Nga - Xô viết thời kì đầu cách mạng. Tác giả “nghiêm chỉnh” nói đến “cái tôi”, “nỗi buồn” - những điều cấm kị không văn bản trong lúc này. Exênhin đã trung thực trình bày nỗi luyến tiếc tuổi thơ của mình (trong Anna Xnhêghina), ông đã dám nói đến những cảm xúc đầy kịch tính, rất buồn nhưng vẫn không bi quan, bế tắc.
Chùm thơ NhữngmôtipBaTư là một loạt tác phẩm trữ tình tình yêu xuất sắc. Tình yêu ở đây hết sức chân thành, các cung bậc của tình yêu được tác giả để cập đến hết sức đa thanh đa dạng. Một đặc điểm cần lưu ý trong Những môtip Ba Tư là tình yêu nam nữ hoà quyện với tình yêu tha thiết đối với nước Nga. Dù cho say đắm các cô gái Ba Tư đến như thế nào chăng nữa, nhà thơ cũng không quên xứ sở Riadan, không quên nước Nga yêu quý của ông. Quả đúng như lời ông đã nói: Tôi không bao giờ muốn lừa dối con tim.
* Trường ca Anna Xnhêghina (1925)
Nếu cho rằng văn học Nga - Xô viết hình thành từ sau Cách mạng tháng Mười 1917 thì nền văn học ấy bắt đầu bằng sự phát triển mạnh mẽ của thơ ca. Cùng với các trường ca: Mười hai của Blốc, V.Lênin của Maiacốpxki, Anna Xnhêghina đã làm phong phú thêm nội dung của nền văn học non trẻ nhưng đầy sức sống này. Cảnh sắc nông thôn Nga được thể hiện trong trường ca một cách tuyệt vời. Những cánh đồng, những khu vườn, đêm trăng, mùa xuân của miền Trung nước Nga luôn luôn tạo dựng được ấn tượng mạnh mẽ. Không có một tình yêu tha thiết với quê hương, không có những kỉ niệm sâu sắc thì nghệ sĩ không thể viết được như đã viết trong trường ca. Ở đây, cùng với Nhữngmôtip Ba Tư, Exênhin đã thể hiện tài năng của một thi sĩ trữ tình lớn. Anna Xnhêghina không chỉ là tác phẩm xuất sắc của Exênhin trong giai đoạn sáng tác cuối cùng mà còn là tác phẩm hàng đầu của văn học Nga - Xô viết giai đoạn 1917 - 1930.
Làm cơ sở cho bản trường ca là một câu chuyện trữ tình gắn với hồi ức vể tình yêu thời trai trẻ của tác giả:
Giờ anh chẳng giống cái ngày xa ấy
Thuở em thở dài vụng dại chạm tayanh
Chuyện đã xảy ra, không quay lại cũng đành
Ôi năm tháng cứ lao đi vun vút...
Nhân vật quan trọng của trường ca là Anna với mối tình e lệ, trong sạch đã thanh lọc tâm hồn của những ai đã đọc tác phẩm. Chính hình ảnh cô gái mười sáu tuổi mặc váy trắng ấy đã làm ánh lên tuổi trẻ, chiếu sáng toàn bộ trường ca. Tác giả đã trình bày mối quan hệ giữa hai nhân vật chính rất tế nhị. Tâm lí được thể hiện hết sức chân thực, không một chút cường điệu hoặc gượng ép:
Ngang khu vườn cây cỏ mọc hoang sơ
Hoa đinh tử khẽ quệt ngang vào mặt
Bờ dậu cũ sao đáng yêu, thươngthiết
Trong cái nhìn nồng cháy của hồn tôi
Thuở ngày xưa lúc mười sáu tuổi đời
Gần cánh cổng của khu vườn thơ mộng
Một cô gái khoác áo choàng màu trắng
Đã trả lời rất âu yếm rằng: “Không”...
Có thể nói, tính chất trữ tình, nghệ thuật biểu đạt những trạng thái tâm hồn là thành tựu lớn của bản trường ca. Chủ nghĩa ấn tượng được thể hiện có mức độ đã tạo nên những hiệu quả thẩm mĩ cao:
Con đường quê vẫn còn tốt. Giữa khuya
Đồng bằng phẳng mênh mông và lặng lẽ
Mặt trăng rải ánh vàng cô đơn và quạnh quẽ
Xa xa kia ẩn khuất những thôn làng
Thấp thoáng tường xây, giếng nước, tháp chuông
Những bờ giậu như hồi nào vẫn thế
Và con tim của một thời trai trẻ
Vẫn rộn ràng, vẫn hồi hộp, say mê...
Song, dù sao thì đó cũng chỉ là một mặt thành tựu của bản truờng ca.
Còn một mặt thành tựu khác cũng không kém phần quan trọng. Đó là một bức tranh rộng lớn của cuộc sống nhân dân trong những năm trước cách mạng và thời kì nội chiến được thể hiện trong bản trường ca này. Trong chưa đầy 800 câu thơ (đúng ra là 781 câu, chia làm 5 phần), tác giả đã miêu tả nhiều nhân vật, trình bày nhiều cá tính, nêu lên những số phận đầy mâu thuẫn và phức tạp:
Chiến tranh làm hỏng nát cuộc đời tôi
Vì quyền lợi của ai kia xa lạ
Tôi đã bắn vào những người gần gūi
Và trườn bò đến bên chỗ anh em
Tôi hiểu mình là con rối không hơn
Bọn buôn thịt đưa ra chiến trường thí mạng...
Có thế nói, đây là sự cách tân lớn trong thơ ca Nga - Xô viết những năm hai mươi. Trong khi các nghệ sĩ khác chỉ chú ý thể hiện tập thể quẩn chúng thì Exênhin dám đi vào những con người cá biệt cụ thể và qua những con người cá biệt lại nói lên được những vấn đề lớn của thời đại.
Nông thôn Nga đã phân hoá. Hình tượng Pron - một trong những người lãnh đạo nông thôn Nga được thể hiện toàn diện, không tô hồng mà cũng chẳng bôi đen. Trước cách mạng, Pron đối lập với chính quyền. Anh bị đày đi Xibia. Cách mạng tháng Mười thắng lợi. Tin ấy được anh phấn khởi đón nhận. Anh chuẩn bị thành lập công xã. Những nông dân giàu, có tài sản không bằng lòng với anh. Người nghèo thấy anh là người lãnh đạo của họ.
Cách mạng tháng Hai diễn ra. Chính phủ lâm thời tiếp tục chiến tranh. Thái độ của tác giả đối với chiến tranh đã rõ ràng:
Tôi nghĩ miên man: Trái đất đẹp bao la
Trên đó sống những con người vui vẻ
Do chiến tranh giờ đây bao người tàn phế
Và bao nguời chẳng còn dáng hình chi
Đã bao người nằm dưới hố sâu kia
Bao người sẽ bị vùi chôn thêm nữa.
Trong cuộc nội chiến, đứng về phía chính quyền Xô viết, thi sī kêu gọi hoà bình, lên án những hành động tàn bạo của bọn Trắng:
Đã có lần quân đội Đênhikin
Dồn dân chúng Kri-u-sa trở lại
Một trò đùa thật vô cùng kinh hãi
Từ trò đùa này bao sinh mạng ra ma
Lính Cô-dắc vung roi, tiếng vun vút vang xa
Cùng với tiếng nghiến răng, tiếng cười reo hô hố!
Nhân vật Anna phức tạp nhưng vô cùng chân thực. Cô xuất thân từ thành phần khác, thuộc “phe khác”. Cách mạng tháng Mười thành công, cô đã di tản ra nước ngoài. Mặc dù vậy, cô vẫn tha thiết với nước Nga, yêu nước Nga. Anna rất buồn và không muôn giấu giếm điều đó khi viết thư cho Xecgây:
Quê nhà ta chắc đã tháng tư rồi
Thông,bạch dương đã bén lộc đâm chồi
Màu xanh phủ trên cánh rừng nơi đó
Nỗi buồn em giây phút này muốn tỏ
Bằng đôi lời trên trang giấy đơn sơ.
Tâm trạng của Anna cũng là tâm trạng chung của những con người Nga trung thực: rất yêu nước nhưng chưa hiểu cách mạng. Tấn bi kịch trong tâm hồn của họ chính là ở chỗ đó.
Trong bản trường ca, hình ảnh Lênin - người lãnh tụ, người cầm lái - “người cũng giống như Các Mác” - tuy chỉ mới phác thảo nhưng rất sinh động, chính xác. Bảy mươi năm đã trôi qua. Mặc dù vậy, Anna Xnhêghina vẫn giữ nguyên giá trị nghệ thuật cũng như tính thời sự của nó. Đây là viên ngọc quý trong văn học Nga - Xô viết.
III.Kết luận
Sự xuất hiện của Exênhin trên thi đàn Nga cũng giống như những con hoạ mi trở về trên cánh đồng vậy. Chúng cất tiếng hót tuyệt vời rồi vội vã bay đi. Đúng như thi sĩ đã tuyên bố:
Tôi đến mảnh đất này
Để vội vàng từ giã.
Cuộc đời ông không dài, nhưng cũng như hoạ mi, thi sĩ đã để lại những bài ca tuyệt vời nhằm ca ngợi đất nước Nga, con người, tình yêu và cuộc sống Nga. Ông là một trong ba nhà thơ lớn, xuất sắc nhất của nước Nga đầu thế kỉ XX (Blốc, Maiacốpxki, Exênhin). Nếu Maiacốpxki đã cống hiến toàn bộ sức mạnh tinh thần vang vọng của mình cho cuộc đấu tranh giai cấp và trở thành nhà thơ diễn đàn của cách mạng thì Exênhin cứ thủ thỉ, tâm tình với người Nga như đôi tình nhân say đắm nhau đang tâm sự.
Quả vậy, thơ Exênhin không dữ dội, quyết liệt. Nó tha thiết, chân thành, sâu lắng và gây ấn tượng mạnh. Từ những bài thơ đầu tiên năm 1914 đến bài Tuyệt mệnh (1925) đều toát lên một tâm hồn nhạy cảm, một tình yêu mãnh liệt, thủy chung đối với quê hương đất nước. Một con người có tình cảm mãnh liệt, suốt đời gắn bó với xứ sở chắc chắn sẽ cùng vui với cái vui mọi người, cùng buồn với cái buồn của thời đại trong bước ngoặt lịch sử lớn lao. Do vâỵ đừng ngạc nhiên khi thấy dường như trong thơ ông có nhiều mâu thuẫn. Vui buồn là những điều có thật trong cuộc sống ở mọi thời đại. Những nốt nhạc buồn trong thơ ông làm một số người đương thời “cáu giận” và đã truy chụp ông. Exênhin đã linh cảm khi ông viết:
Mặt sát mặt không hề nhìn rõ mặt
Xa ngắm nhìn thấy mặt rõ ràng hơn.
Thế kỉ XX bùng nổ lây lan bao cuộc đấu tranh cách mạng, mở đầu là Đại Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và kết thúc bằng buổi hoàng hôn Liên Xô xã hội chủ nghĩa (1991). Một thế kỉ kiếm tìm và dựng xây một ngôi nhà mới lí tưởng mà thực tế không tròn. Ba mươi năm ngắn ngủi của Exênhin (1895 - 1925) chỉ là một nốt nhạc trầm buồn trên hành trình tìm kiếm khát khao và đầy va đập ấy. Exênhin cũng là một chứng nhân lịch sử buồn lặng lẽ làm ta nhớ về một thời niên thiếu khăn quàng đỏ hoan ca, một thời thanh niên rạo rực mê say Thời hoa đỏ: Tôi nói những gì tôi đã hiểu/ Người nghe cũng cảm thấy hân hoan,/ Tuyết rơi cho má hồng thêm nữa/ Trong trắng hồn con, trắng phố phường./ Hồng Trường tay khoác tay nhau/ Nụ cười đã xoá khổ đau bao ngày/ Đàn bồ câu cũng vui lây/ Từ trên tháp bổng sà ngay quảng trường/ Tròn xoe đôi mắt yêu thương/ Một hoa tuyết nhẹ còn vương tóc dài./ Nơi nào trên quả đất này/ Mênh mông tình bạn, mê say cuộc đời?/ Bỗng dưng ta nhớ một trời/ Cờ sao khắp phố, tuyết rơi... chân tình./ Chưa yêu ai giống yêu mình/ Nhớ như nỗi nhớ Kremlin sáng này (07/11/1980 - Việt Thương)
Những năm cuối cùng của thế kỉ XX ngoảnh lại nhìn, chúng ta thấy rõ giá trị đích thực sáng tạo của Exênhin. Người đã mất nhưng thơ ca chân chính vẫn sống trong lòng người. Thơ ca vừa mang tính lịch sử vừa mang tính người giản dị mà bí ẩn vīnh hằng. Thế kỉ XX đã kết thúc, cái gọi là “Văn học Xô viết” - minh chứng để “tôn trọng một thực tế lịch sử... bảo đảm tính chính xác của khái niệm này”(1) - vẫn còn như lịch sử tâm hồn Nga, tính cách Nga được tiếp biến trong dòng thơ trữ tình từ A.X. Puskin (1799 - 1837), M.I. Lecmôntôp (1814 - 1841)... cho đến X. Exênhin. Và vang vọng, đồng vọng trong mỗi chúng ta trên hành trình nhìn lại, tìm tòi, đổi mới.
Mỗi một năm vào khoảng tháng này
Tôi lại khóc vì một thời đã mất
Tuổi trẻ trắng trong chập chờn bông tuyết.
Đậu vô tình trên má của ai đây
Cứ hàng năm vào khoảng tháng này
Tôi lại nghī về những ngày hạnh phúc
Khi phân biệt đâu là trong, là đục
Giữa dòng đời hỗn tạp vút trôi qua
Một mẩu bánh mì mặn nước mắt xót xa
Đã thành máu tụ về tim trong những ngày đói lả.
Ai nhớ ai quên, buồn vui, ai quen ai lạ
Về những chiều tuyết lạnh thuở xưa xa?
Một chỗ ngồi ấm tình bạn thiết tha,
Giảng đường lớn sáng màu xanh hạnh phúc
Những cặp mắt sáng lên niềm mơ ước
Có dễ gì năm tháng sẽ mờ phai?
Bạn bè xưa hiện còn lại những ai
Để chia xẻ nỗi đau triền miên chưa từng nếm trải.
Và ở đâu, và khi nào gǎp lại?
Nước Nga ơi! Giá buốt đến bao giờ?
Từ tận niềm sâu thẳm nỗi bơ vơ
Dâng ngập cả những ngày vui hiện tại
Lòng quặn thắt tưởng như điên như dại
Thấy giữa Hồng trường chỉ một mình tôi!
(07/11/2004 - Việt Thương)
------------
CHÚ THÍCH:
(1) Xem thêm Hoàng Ngọc Hiến, Văn học giai đoạn 1917 - 1929, in trong “Lịch sử văn học Nga"- NXBGD
(Tài liệu này do Tổ Văn học nước ngoài Khoa Ngữ văn - Đại học Quy Nhơn biên tập lại trên cơ sở tập bài giảng viết tay của thầy Nguyễn Văn Giai - dịch giả Việt Thương hiện lưu trong Tủ sách gia đình và vở ghi của một số cựu sinh viên các khoá. Đã in trong tập “Xécgây Alêcxandrôvich Exênhin - Một thế giới trữ tình”, NXB Giáo dục, 2014
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.