TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
VĂN HỌC SÀI GÒN ĐÃ ĐẾN VỚI HÀ NỘI TỪ TRƯỚC 1975
VĂN HỌC SÀI GÒN ĐÃ ĐẾN VỚI HÀ NỘI TỪ TRƯỚC 1975
Vương Trí Nhàn
Hồi tôi còn học trung học phổ thông, tức là đầu những năm sáu mươi, trong sách giáo khoa văn học trích giảng, vẫn có nhữngphần nhắc lại một cách sơ lược rằng ở các thành thị miền Nam có một nền văn học của mìnhdù rằng nhắc để phê phán.
Năm 1959, Chế Lan Viên có bài đọc Hoa Đăng của Vũ Hoàng Chương, bài viết kèm theo nhiều trích dẫn.
Trước đó trên báo Văn nghệ còn thấy in một lá thư, trong đó, nhà vănNguyễn Tuânthay mặt Hội văn nghệ mời cácnhà văn miền Nam cùng dự Hội nghị các nhà văn Châu Átổ chức ở Ấn Độ cuối năm 1956. Lá thư có cái giọng thực sựchân thành và trân trọng: 'Thân gửi các bạn nhà thơ nhà văn miền nam. Chúng tôi lấy làm sung sướng chuyển vào các bạnlời mời của Ban trù bị Hội nghị Hội Văn nghệ Việt Nam trong khicử ba bạn nhà văn nhàthơ miền Bắc sang dự Hội nghị cũng rất thiết tha mong mỏiđược gặp các bạnđể trao đổi những kinh nghiệm sáng tác của chúng ta'.
Bước vào chiến tranh, những thông tin rộng rãi kiểu đó không còn nữa. Tuy nhiêntrong những năm ấy, nhiều tờ báo nhiều cuốn sách bên kia giới tuyến vẫn có mặt, sách báo ở SàiGòn ở các thành thị miền Nam vẫn len lỏi trở đi trở lạitrong câuchuyện của giới viết văn ở Hà Nội. Sự tiếp xúc xảy ra âm thầm lưa thưa lót đót,khi được khi chăng,nhưng không bao giờ chấm dứt. Và khởi đi từ những năm chống Mỹ,nó sẽ có lúc bồng bột cuộn lên mạnh mẽ (mà cũng là xô bồ tung tóe, nhếch nhác hơn, đầy trắc trở hơn) trongnhững năm hậu chiến vàkéo mãi đến ngày nay.
Tại sao những người viết văn năm ấy đang còn trẻ là bọn chúng tôi lại chú ý đến mảng văn học đó? Nếu có người hỏi như vậy, chínhtôi cũng sẽ lúng túngvà nói bừa rằng thích thì làm vậy. Rồi người ta có thể kể người này có biết gì đâu, chẳng qua học đòi; người kia lúc nào cũng kín kín hở hởkhoe rằng mình đã đọcđể làm dáng... Tất cả những cái đó có cả.
Thế nhưng ngồi nghĩ lại ở đây còn có một cái gì sâu xa hơn mà dần dần trong thời gian nó mới bộc lộ. Có thể, vâng,tôi lờ mờ cảm thấy không chừng những con người đó và những cuốn sách đó sở dĩ có sức thu hút với bọn tôi là vì những lẽ vừa xa xôi vừa thiết thực. Trong sự chờn vờn có có không không lẫn lộn, nó giống như một thách thức mà khi nghĩ tới, thúc đẩy chúng tôi làm tốt hơn công việc trước mắt. Bằng cách đưa ra những trang viết khác hẳn chúng tôi đang viết, nógợi ý về những việc có thể làm, nhớ lấyrồi ralúc khác sẽ làm. Ấy là không kể -- điềunày thì chắc chắn chứ không còn nghi ngờ gì nữa--,nómở ra cho chúng tôi một chân trời mới về kiến thức văn học và thức dậy những ham hố phiêu lưu. Đại loại đó là sự tò mò của tuổi trẻ hoặc cái khao khát được sờ vào những trái cấm. Mà tuổi trẻ bao giờ chẳng thế, trách chúng tôi thì trách cả nhân loại!
Hồi ấy trên Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, có cả một chương trình dành chongười nghe ở các đô thị, nhất là văn nghệ sĩSài gòn. Nhiều nhà văn tên tuổi nhưTô Hoài, Xuân Diệu và các cây bút loại trí thức như Nguyễn Thành Long thường được mời viếtchochương trình này.
Muốn người ta viết thì phải có cái cho người tađọc. Tự nhiên là có nhu cầu phải tìm sách vàcó sự truyền tay sách vở.
Trong bọn chúng tôi có anh Trúc Thông làm ở chương trình đô thị của đài. Gần như cả giới văn chương trẻ Hà Nội biết điều đó. Cứ nghĩ rằng nếu lân la tìm đến ngôinhà 16 Hồng Phúc sẽ được ngó ngàng vài số tạp chí từ trong kia mang ra, lòng đã run rẩy vàcó phải đixa mấy để đọccũng chẳng ai thấy ngại.
Mấy năm gần đây một vài anh thích nhắc đến thơ Thanh Tâm Tuyền. Nhưng chínhhồi ấy, chúng tôi biết đến nhiều hơn là một Thanh Tâm Tuyền ở văn xuôi. Một lần nào đó đi họp với các cụ nhà văn tiền chiếnmột bạn trẻ của tôichợt phát hiện ra Nguyễn Tuân với Cát lầy của Thanh Tâm Tuyền.Vâng chính lànhà văn ấy, đang đọc cuốn sách ấy. Anh về kháo với anh em chúng tôi. Tự nhiên là chúng tôi cũngbị lôi cuốn bảo nhaumò mẫm đi tìm.
Đến cả Nguyễn Khải cũng tìm. Cát lầy, theoNguyễn Khải,ăn ở sự ma quái của mình.Cũng như sau này Nguyễn Minh Châu nói rằng thích Thần tháp rùa của Vũ Khăc Khoanvì ở đó có yếu tố tượng trưng. Cả hai nhà văn Hà Nội của tôiviết theo lối thực,nhưng ở chỗ riêng tư,các anh bao giờ cũngnhấn mạnh rằng một thứ văn xuôi thăng hoa mới là điều đáng ao ước, và chúng tôicũng học theo các anh mànói vậy. Ai mà chẳng muốn khác đi một chút so với những gì mình đang có!
Sau Thanh Tâm Tuyền, thấy rộ lên trường hợp Nguyễn Thị Hoàng. Có lúc nghĩ lạithấyhình như truyện chẳng có gì, chỉ ăn ở cái lạ là mối tình của một cô giáo với một học trò, nóquá ư làcông,là ngược với thói quen đạo đức còn nặng chất phong kiến của dân Hà thành. Nhưng nên nhớ hồi ấy, cả Thơ mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàncũng không ai được đọc. Thì cái chất mùi mẫn kialại đâm có sức quyến rũ. Và trong sự chăm chú đọc, người ta nhận ra ở nó cả những yếu tố còn lờ mờ, nhưng đã có ở chính mình.
Sổ tay tôi còn ghi nhiều cuộc trò chuyện với Nguyễn Minh Châu, trong đó có những nhận xét của anh Châu về Vòng tay học trò. Về nghệ thuật, anh Châu bảovăn chương nó viết nhuyễn thật. Không phải là uốn éo đâu mà với nội dung ấy thì phải viết kiểu ấy, nó mới nói hết được cái phức tạp của con người bây giờ(xem Trò chuyện với NguyễnMinh Châu, tạp chí nhà văn số 4-2008). Ai đó nghĩ NguyễnMinh Châu chuyên viết chiến tranhsao lạicó thời giờ lưu ýphần nhân bản trong trang viết.Nhưng đúng anh Châu là thế, nên anh mớicắt nghĩa Vòng tay học tròtheo kiểuliên hệ Vòng tay học tròvới Dấu chân người lính của mình.Có một đoạn, NguyễnThịHoàng tả cô Trâm này với tay Minh ra gieo đỗ, nói về sức sống trong lòng đất. Tôi thấy mình cũng gặp nó ở chỗ ấy, trong một đoạn tôi viết Xiêm đi lấy thóc và tự hỏi tại sao không lấy gạo mà lại lấy thóc?....
Vậy là việc đọc Vòng tay học tròvới Nguyễn Minh Châu, là một hành độngnghề nghiệp nghiêm chỉnh. Anh ngầm bảo rằngnhững tácphẩm của phía bên kia kích thích anh,như một lời mời gọithú vị: “Đọc những tay này, tự nhiên mình dậy lên mộtthứ thâm thù: Mình cũng phải viết được cái gì để làm cho nó khiếp về mình mới được'.
Cũng không nhớ hết là nguồn ở đâu ra chỉ biết lànhững cái tênnhư Nguyễn Thị Hoàng và Nguyễn Thị Thụy Vũ,Mai Thảo và Duyên Anh, Doãn Quốc Sĩ và Thế Uyên đã đến với chúng tôi rất sớm. Sau này đọc lạithấy sự hiểu biếtcủa mình cũng lỗ mỗ chả bao nhiêu, nhưng lại chả cái gì là không thấp thoáng có mặt. Vàcó cảnhững cái tên những quyển sách màcó thể số đông chẳng có mấy ý nghĩa, nhưng với một số người nào đó lại có duyên nợ riêng.
Thậtlà trớ trêu, nhưngquả thật với tư cách một người mới làm quen với văn, cái mà tôi nhớ hơn cả từ văn chương Sài Gònnăm ấy lại là những tác phẩm viết về thân phận của người cầm bút. Lần ấy,đọc Một ngày làm việc của Chiêu Hoàngtruyện ngắn của Trùng Dương Nguyễn Thị Thái (in trên bán nguyệt san văn 4-1973), tôi chỉ nghĩ người đàn bà viết văn ở đây sao gần mình. Cũng đau đớn mà làm nghề, vừa viết để thỏa mãn cái tôi muốn tự khẳng định, lại vừa lo kiếm sống. Những vui buồn ngổn ngang lấp đầy cuộc sống hàng ngày sao màcũng na ná như tâm trạng của chúng tôi.
Một lần khác, tôi tìm thấy hình ảnh của chính mình trong bóng dángnhững người viết văn miền nam,đó là một đoạn văn của Mai Thảo viết về Vũ Khắc Khoan , in trên tạp chí Vấn đề ,1969: 'Vũ Khắc Khoan. Một mái tóc đã chiều của một tâm hồn còn sớm. Những buổi chiều Sài Gòn buồn bã. Những buổi chiều Đà Lạt mù sương. Mỗi ngày qua thêm một sợi bạc. Âm thầm đe doạ, lặng lẽ tràn đầy. Ly rượu nửa khuya là ly thứ mấy. Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu. Muốn một thời đại hoàng kim. Thèm một tấm lòng bè bạn. Mỗi cơn say là một cảm khái ngà ngà. Vũ Khắc Khoan.Của một tự hỏi, tự hoài nghi và tự bâng khuâng lắm lắm về cái bình sinh mà mình chưa đạt. Ta đã dùng chi đời ta chưa?
Ai đã dùng chi đời ta chưa? Ngó ra cái chung, cái đại cuộc cái toàn thể, nhìn trở vào cái riêng tây, rừng ấy mung lung, núi ấy chập chờn, nghe từng phiến đá tâm linh rụng dần những giấc mơ không thành tựu. Và tôi, một trong ít những người bạn của Vũ Khắc Khoan, tôi muốn nhìn ngắm anh như một cần thiết. Trong cuộc sống hàng ngày thôi, có rất nhiều những giờ phút buồn bã của chúng tôi có Vũ, người ta nhớ thêm được những điều đáng nhớ, quên mau được những điều đáng quên, và cuộc đời xem được là nhẹ hơn hoặc coi được là nặng hơn cái trọng lượng tầm thường và phí lý của nó.'
Ngày 5-5-1975,vào Sài Gòn, sau khi đi thăm hiệu sách Khai trí, tôi nhờ một sinh viên dẫn dến tòa soạn Bách Khoa, gặp Lê Ngộ Châurồi nhờ ông Châu nhắn gặp Nguyễn Mộng Giác. Có mấy lý do thứ nhấttheo tôi đọc được, anh Giác cũng là dân cũng học qua sư phạm nhưtôi và cáchviết cũng nhiều chất trường ốc; và thứ hai, Giác năm ấy so với những Vũ Hạnh, Võ Phiếncũng là cánh trẻ. Qua Giác, tôi làm quen với Hoàng Ngọc Tuấn và có lần đến thăm cả Nguyễn Hiến Lê. Cái chính là chúng tôi cảm thấy cùng thân phận. Tôi hay nói với Nguyễn Mộng Giác: Chúng tôi mà ở trong ấy, thì cũng thành các anh.Mà các anh ở đây cũng thành chúng tôi. Hoàn cảnh quyết định hết!
Không riêng gì tôi! Nghiêm chỉnh và sâu sắc, những kỷ niệm loại này, hẳn có ở nhiều bạn khác. Và cả nhữngkỷ niệm về hiểu lầm nhau, nghĩ sai về nhau, đánh đòn hội chợ chuyện này,thù sâu oán nặng chuyện kia, thật cũng là cái phù vân nhảm nhícủa cuộc sống đâu mà chẳng có. Tình trạng rón vào từng cục chẳng ai chịu ailà phổ biến của làng văn Việt Nam, cảgiữa các nhà văn trong ấy, lẫn chúng tôi ngoài này. Thì trách nhau mãi sao tiện.
Nhưng thôi, hãy kể ít chuyện cũ đã. Khoảng 1971-73 gì đó, có lần anhNguyễn Thành Long khoe với tôi lànhân muốn trò chuyện với Thế Uyên, phải lặn lội về tận làng Bằng ở Hà Đông lấy tài liệu để viết một bài về Thạch Lam. Đoạn cuối truyện ngắn Cô hàng xéncó câu: 'Tâm dấn bước. Cái vòngđen của rặng tre làng Bằngbỗng vụt hiện ra trước mặt, tối tăm và dày đặc' .
Hè 1972, có mặt ở Quảng Trị lúc thành phố chưa bị ném bom hủy diệt tôi mang về nhiều bài báo xé ra từ cácsố bán nguyệt sanVăn, trong đó có bài Tự truyện viết sớm của E.Evtouchenko. Chính là hồi đó, loại tài liệu này cũng là của hiếm với chúng tôi. Sẵn bản dịch của Vũ Đình Lưu, các bạn như Lưu Quang Vũ, Nghiêm Đa Văn, Lâm Quang Ngọc,truyền tay nhau để đọc.
Tôi kể lại hai chuyện này để thấy sự chia sẻ của chúng tôi với văn học đô thịmiền Nam còn là ở hai điểm. Thứ nhất sựchi chútgia tài văn học quá khứ. Không có các anh trong ấy bao năm gìn giữ, Hàn Mặc Tử chẳng hạn, rồi Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương không thể trọn vẹn như ngày nay.Thứ hai, sựtiếp nhận văn học nước ngoài từ các lý thuyết văn học tới các tác giả cụ thể. Các tạp chíở Sài Gòn đã làm công việc này một cách tự nhiên vàcuộc hội nhậpvới thế giới mà các bạn trẻ đầu thế kỷ XXI này đang làm là tiếp tụcđi theo cái mạch đó.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.