TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU TRONG THƠ HOÀNG CẦM
VƯƠNG QUỐC TÌNH YÊU TRONG THƠ HOÀNG CẦM
Đỗ Minh Tuấn
Ngôi đền thơ thờ ba người tình ảo
Thơ Hoàng Cầm là một vương quốc tình yêu tôn giáo "bóng tô-tem dập dìu" quanh một thi nhân đang "tu hành trong ngôi chùa tình ái" nơi thờ ba người tình mộng ảo: người tình trong ký ức, người tình đã khuất nơi chín suối và người tình văn hoá trong huyền sử và bên toà sen. Ba người tình này đều nửa thực nửa hư và đều ẩn hiện trong khói hương tôn kính của kẻ dưới nhớ người trên, của kẻ sống thờ người chết, của người trần chiêm ngưỡng các tiên nữ, thanh linh.
Nhà thơ Hoàng Cầm và người vợ cuối cùng Lê Hoàng Yến
Tình yêu của thi sĩ họ Hoàng trong "99 tình khúc" là tình yêu đặc biệt với những xúc cảm thẩm mỹ vừa trần thế vừa tôn giáo, vừa khao khát chiếm hữu và chiêm ngưỡng rụt rè, song tư thế cơ bản của thi nhân trong tình yêu là tư thế ngước nhìn lên. Những váy yếm xiêm y trong thơ ông là những vật thiêng luôn luôn được đặt lên cao lung linh như sao và phấp phới như cờ hội mà thi sĩ phải ngẩng lên mà chiêm ngưỡng như những vật thờ.
"Hội yếm bay" là bài thơ huyền sử kể chuyện một nàng tiên bị đày xuống trần gian vì vi phạm những cấm kỵ trên thiên đình. Chiếc yếm ở đây là chiếc yếm ảo, "chiếc yếm vua cha dặn" khi được thi sĩ nhân lên thành lá cờ phấp phới "bay cờ triệu yếm ríu ran ca" nó trở thành sự thăng hoa những khát vọng phồn thực của sức sống trần thế nơi tiên nữ bị lưu đầy và nhập cuộc. Một cảnh tượng huyền thoại hùng vĩ biểu dương quyền sống của người phụ nữ.
Còn bộ xiêm y trong bài Tương biệt hành xuất hiện trong cảnh huống nhà thơ tưởng tượng một tình yêu Liêu Trai chí dị, âu yếm một bóng ma, một người vợ đã chết. Cuộc chia tay đưa người vợ lên trời xanh vĩnh hằng diễn ra vừa trần thế vừa ma quái:
"Vỗ vai mây phát tờ đơn chữ thảo mưa xiên
Xin gió bốn phương phê chuẩn
Đôi mình ôm nhau lần cuối
Lệnh tám cõi tốc xiêm y chới với
Sững mình em vùn vụt hút lên mây xanh" (tr.145).
Thật là một tình yêu có một không hai, bất chấp âm dương cách trở, một cách viết táo bạo, ấn tượng, giầu mỹ cảm phương Đông. "Váy Ngân hà loang mặt tiểu hùng tinh" là cái nhìn vũ trụ hoá siêu thoát khỏi cái váy "buông chùng cửa võng" của người chị trong đời thực.
Trong buổi chiều nhạt nắng
Rõ ràng trong ba ví dụ trên đây những váy, yếm, xiêm, y đều hiện ra trong tư cách những biểu trưng văn hoá, những nhịp cầu nối liền cõi Đời và cõi Đạo. Những hình tướng thế tục của chúng đã được nhà thơ tín hiệu hoá, vũ trụ hoá, nghi lễ hoá thành cờ, hội, ngân, hà. Cái phấn khích thế tục của chúng chỉ còn lại trong động thái tốc, phấp phới và loang, nghĩa là những yếu tố nhục dục đã được trời đất hoá, thanh khiết hoá trong dạng thức những sinh lực vũ trụ. Ngay cả những hành vi vật thể ít tính nhục dục hơn như khăn, áo, ngực và ôm cũng được thanh cao hoá bởi nhà thơ đã đưa chúng vào trong không khí nghi lễ tôn giáo trong đó cái thiêng liêng luôn hiện diện giữ nhịp cho đời sống trần thế:
" Chuông chiều cởi áo
Chuông sớm đội khăn" (tr.177)
"Ôm em đỉnh núi sao buông thấp
Hai ngực hoà tan một tiếng chuông" (tr.182).
Trong vương quốc thơ tình của Hoàng Cầm không chỉ những vật thể của người tình được thanh cao hoá, tượng trưng hoá mà cả những âu yếm, ái ân cũng in đậm màu sắc những lễ nghi huyền thoại, những ký ức đơn đau trong phút giây tưởng niệm về những mảng tình đã tan, những người tình đã chết, những tiên nữ, Quan âm Bồ tát xa vời. Tất cả những hành vi tình yêu đều diễn ra trong một không gian tôn giáo đầy tính chất siêu hình, hư ảo, sắc sắc không không:
"Nắng em nắng đến siêu hình
Như môi như mắt
như mình
như không" (tr.48)
"Em ngồi đâu chị đứng đâu
Bỗng dưng hai đứa hai đầu hư không" (tr.26).
Đó cũng là một không gian huyền thoại:
"Một con bướm lửa đậu môi
Hai nhành hoa lửa chia đôi tay cầm
Ba tầng mây lửa trầm ngâm
Bốn con chim lửa đậu nhầm cỏ hoang
Trời quê em vẫn thênh thang
chiều mê bến lịm bàng hoàng chớp mây". (tr.45).
Đó cũng là không gian vô định, lãnh lẽo của địa ngục:
"Mênh mang là cái giá băng
Mình tôi níu mãi bóng hằng lửng lơ
Bên kia tối mịt hố mờ
Bên này loang loáng sáng bờ mê ly
Em lại đi sao cớ đi
Ngẩn ngơ vũ trụ còn gì trong tay" (tr.58).
Trong cái không gian "mênh mang", "tối mịt" vừa rực lửa như hoả ngục vừa lạnh giá như cõi âm, vừa có cái nắng quê rất thực lại có con bướm đậu trên môi rất ảo ấy, con người luôn bị đánh võng giữa tồn tại và hư vô, giữa thực tế và huyền thoại, giữa thiên đàng và địa ngục, giữa cái thế tục và cái thiêng liêng. Vì thế, thi nhân luôn luôn sống trong trạng thái "ngẩn ngơ", "bàng hoàng", "lửng lơ", "hãi hùng", "thẫn thờ", hoang mang và khao khát triền miên trong cuộc ú tim với những người tình ảo mà những khoảnh khắc ái ân thực chất cũng chỉ là sự níu kéo hốt hoảng bên ngưỡng cửa hư vô để vớt vát lại chút thịt da trần thế của người yêu đang ngày ngày tan rã trong lòng đất và trong tâm trí. Làm gì có dâm dãng và nhục dục đích thực trong cái không gian của Thần Khúc Liêu Trai bồng bềnh hư ảo và khắc nghiệt ấy, trong cuộc đuổi bắt những hình bóng mỏng manh ẩn hiện ở cái đầu hư vô mịt mờ tăm tối và rờn rợn ấy:
Chị đây có phải em chăng!
Em đâu có thật em rằng chị không!
Xiết tay kết một vô cùng
Lơi tay lại vẫn đôi dòng lửng lơ. (tr.27).
Đỗ Minh Tuấn
Kỳ II: Từ tình yêu chị em đến ảo vọng về chiếc lá Diêu bông
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.