• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
CHUÔNG NHÀ THỜ KHÓC ĐƯA NGƯỜI NGÀN THU…

CHUÔNG NHÀ THỜ KHÓC ĐƯA NGƯỜI NGÀN THU…



 

* Trần Hoàng Vy

Thêm một người… quen cũ lại ra đi! Tin nhà thơ Kiên Giang- Hà Huy Hà mất lúc 6g30 sáng ngày 31/ 10 nhằm mùng 8 tháng 9 nhuần năm Giáp Ngọ, tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương, thành phố HCM, dù đã tiên liệu trước khi hay tin ông bị đột quỵ phải cấp cứu, vẫn khiến tôi bàng hoàng đau xót…
Nói không ngoa, ông là một trong những cây đại thụ về mặt văn học và sân khấu cải lương của miền Nam từ trước giải phóng cho đến nay. Một mất mát to lớn mà những người yêu mến ông và ngành sân khấu cải lương khó có thể bù đắp được.
Hầu hết anh em văn nghệ sĩ và những người yêu văn học nghệ thuật ở miền Nam, không ai là không nhớ đến vài câu thơ trong bài thơ nổi tiếng “ Hoa trắng thôi cài lên áo tím” của ông sáng tác từ năm 1958 đã được nhạc sĩ Huỳnh Anh, con trai danh cầm Sáu Tửng phổ thành ca khúc, và câu nói bình dân, cửa miệng của người đời “ Lạy Chúa con là người ngoại đạo…” cũng chính là câu thơ trong bài thơ nói trên. Và ngay cái tựa đề bài viết tiễn biệt này cũng trích từ mấy câu thơ của ông: “Xe tang đã khuất nẻo đời / Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu / Từ đây tóc rũ khăn sô /Em cài hoa trắng trên mồ người xưa.”
Nhà thơ Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, sinh ngày 17 tháng 2 năm 1929 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Ông là đồng hương của nhà văn Sơn Nam. Ngoài làm thơ, Kiên Giang, với nghệ danh là Hà Huy Hà, còn là một soạn giả cải lương rất nổi tiếng thời đó, cùng với Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều-Hoa Phượng, Quy Sắc... Các tác phẩm cải lương của ông có thể kể đến Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới, trong đó Người vợ không bao giờ cưới đã giúp cho nghệ sĩ Thanh Nga đạt giải Thanh Tâm và trở thành một ngôi sao trong giới cải lương.
Trước 1975, Kiên Giang còn làm ký giả kịch trường cho nhiều tờ báo lớn của Sài Gòn như Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng... Ông từng tham gia phong trào ký giả ăn mày và dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại những quy chế khắt khe của chính quyền cũ áp đặt lên giới báo chí. Vì hành động này, Kiên Giang đã bị đi tù.
Sau 1975, Kiên Giang làm Phó đoàn cải lương Thanh Nga, kiêm cán bộ phòng nghệ thuật sân khấu.Ông từng làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Sân khấu thành phố Hồ Chí Minh qua 3 nhiệm kì.
Ấn tượng về ông, khi đầu những năm 1970, tôi ở Sài Gòn vừa học vừa tập tành viết lách, làm báo, là một người đàn ông trung niên, nhỏ con, đầu đội nón phớt, chân đi chữ bát, có thói quen viết không bao giờ… bỏ dấu, đợi khi viết xong, mới từ từ đọc lại bản thảo và bỏ dấu, và tôi cũng là một trong những người… hiếm hoi được ông rũ về nhà vài lần, một ở Thủ Thiêm trước 1975, và lần nữa ở bên cầu chữ Y quận 8. Song ấn tượng ban đầu không thể nào quên, ấy là căn nhà sàn bằng gỗ và lá dừa nước nằm đơn độc giữa chập chùng dừa nước bên Thủ Thiêm, phía trước nhà treo một cái mẹt ( cái sàng) to, trên dán giấy trắng, viết ngoằn ngoèo bốn câu thơ theo kiểu chữ thư pháp: “ Từ dạo về đây sống rất nghèo/ Bạn bè chỉ có gió trăng theo/ Những phường bất nghĩa xin đừng đến/ Để cửa thềm ta xanh dấu rêu”, bốn câu thơ ông nói là của nhà thơ Nguyễn Bính, người thầy và là người anh kết nghĩa của ông trong kháng chiến. Có vẽ lúc đó ông sống khép kín, ít giao du, phần lớn cuộc đời ông dành cho thơ ca, sân khấu cải lương và nhất là chương trình tiếng thơ Mây Tần mà bà xã tôi cũng là lính, nghệ sĩ diễn ngâm của ông. Bên cạnh là chuyên mục thơ trên báo Điện Tín, ông khiêm nhường ghi là “Lều thơ”, cái lều thơ nhỏ bé, khiêm tốn ấy lại luôn rừng rực những vần thơ yêu nước, là nơi “khởi nghiệp” của nhiều cây bút thơ ở miền Nam bấy giờ.
Thơ ông phần lớn dung dị, mộc mạc với ngôn ngữ và cả phương ngữ Nam bộ, gần gũi thân quen như: “Thuở ấy anh hiền và nhát quá…”, “ Đói lòng ăn nửa trái sim/ Uống lưng bát nước đi tìm người thương” hay “ Ngày mai đám cưới người ta/ Tại sao sơn nữ Phà Ca lại buồn”…
Rất nhiều bài tân cổ giao duyên: Trái gùi Bến Cát, Đội gạo đường xa, Tim đá mạ vàng, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Người đẹp bán tơ, Hương cau quê ngoại, Trái tim cò trắng, Vắt sữa nai nuôi mẹ, Hương sắc gái Cà Mau, Lập quán kén chồng, Ni cô và lão ăn mày, Khói lò gạch, Cô gái miền Tây... của ông thời đó, được mọi người nồng nhiệt đón nhận, bởi sự dung dị, chơn chất của con người Nam bộ, nhận xét về ông, người cùng thời, nhà thơ Bùi Giáng viết: « 'Lành mạnh, thanh cao, vị tha và ái quốc', ông Thiếu Sơn nói không sai một tấc một ly nào cả, khi giới thiệu thơ Kiên Giang. Ông Kiên Giang tuyệt nhiên 'không cầu kỳ, không giả tạo' mà đạt tới chỗ sâu thẳm nhất trong linh hồn mọi người, một cách thuần nhiên “ và nhà văn Sơn Nam người bạn đồng hương thân thiết những năm sau này đã viết: “«Một cuộc đời lăn lóc, chẳng bao giờ khấm khá, về già làm chuyện ái hữu, tương tế, quả là thành đạt, không xấu hổ với đất nước. Đây là một người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi.»
Những năm sau khi về hưu, ông sống cuộc đời vất vả ở Hội Ái hữu Sân khấu, ít viết, chủ yếu sinh hoạt cùng với các câu lạc bộ thơ ca, đặc biệt là ở câu lạc bộ thơ ca quận 8. Ông vẫn quan tâm đến những mầm non văn học và sân khấu, tôi chỉ được gặp ông vài lần vội vả thoáng qua. Tôi hứa sinh nhật lần thứ 80 của ông, vợ chồng tôi đến thăm ông, nhưng vì chuyện riêng lại không đi được…
Bây giờ ông đã 85 tuổi, và ông ra đi thanh thản trong một sáng sớm chớm đông trong vòng tay người thân, bè bạn. xin được mượn những vần thơ sống mãi của ông để được đưa tiễn ông: “Hoa trắng thôi cài trên áo tím / Mà cài trên nắp cỗ quan tài…/… Xe tang đã khuất nẻo đời / Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu / Từ đây tóc rũ khăn sô /Em cài hoa trắng trên mồ người xưa.”

Gò Dầu hạ, 31/10/2014



Tin tức khác

· NGƯỜI LÍNH VÀ HUYỀN THOẠI VỀ NHỮNG TRANG TÌNH SỬ
· TRUY VẤN BẢN THỂ TRONG THƠ PHAN HOÀNG - Tiểu luận TRẦN BẢO ĐỊNH
· TƯ TƯỞNG NHÂN DÂN ANH HÙNG
· TÔI ĐÃ ĐỌC NHỮNG BÀI THƠ CÓ LẼ LÀ CUỐI CÙNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
· CÓ THẬT TẦN THỦY HOÀNG LÀ CON RUỘT CỦA LÃ BẤT VI?
· THƠ VIỆT PHƯƠNG - MỘT THỜI TRĂN TRỞ ĐỔI MỚI
· XUÂN PHƯỢNG VÀ NHỮNG NGÃ RẼ ĐỊNH MỆNH TRONG ĐỜI
· NGƯỜI ĐI KHẮP ĐÌNH CHÙA ĐỂ VIẾTVAWN
· KHUẤT BÌNH NGUYÊN - THA HƯƠNG LÀ ĐỂ TÌM VỀ
· NHỚ NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG - SỰ CUỐN HÚT TỪ CẢM XÚC VÀ TẤM LÒNG - Tiểu luận TRẦN ĐĂNG KHOA
· AI THẬT SỰ ĐÃ VẼ 'TRÚC LÂM ĐẠI SĨ XUẤT SƠN CHI ĐỒ'?
· AI LÀ TÁC GIẢ BÀI THƠ 'NAM QUỐC SƠN HÀ' BẤT HỦ? - Tiểu luận VŨ BÌNH LỤC
· CUỘC TRƯỜNG CHINH KHÔNG MỆT MỞI CỦA 'O TÔN NỮ HUẾ' - Tiểu luận NGUYỄN KHẮC PHÊ
· CHỈ CÓ THỂ LÀ CAO VIỆT QUỲNH - Tiểu luận TỐNG PHƯỚC BẢO
· NHỮNG SẮC MÀU THƠ VIỆT 2025 - Tiểu luận ĐỖ ANH VŨ
· NGUYỄN DU VÀ TIẾNG NGHỆ - Tiểu luận VƯƠNG TRỌNG
· THƠ BẰNG VIỆT - TIẾNG VỖ CÁNH CỦA SUY TƯỞNG - Tiểu luận HỮU THỈNH
· BÍ ẨN VẬT THỂ NGHỊ MỘ HOÀNG THÁI HẬU DƯỚI ĐÁY SÔNG CHU
· VÌ SAO XUẤT HIỆN CÁC THÁNH TỔ DƯỚI TRIỀU LÝ?
· LẮNG NGHE TIẾNG THÌ THẦM - Tiểu luận của LÊ THỊ TUYẾT HẠNH

Tin tức mới
♦ NGƯỜI LÍNH VÀ HUYỀN THOẠI VỀ NHỮNG TRANG TÌNH SỬ (16/01/2026)
♦ TRUY VẤN BẢN THỂ TRONG THƠ PHAN HOÀNG - Tiểu luận TRẦN BẢO ĐỊNH (16/01/2026)
♦ TƯ TƯỞNG NHÂN DÂN ANH HÙNG (16/01/2026)
♦ CHÙM THƠ NGUYỄN XUÂN HÙNG - TRĂNG VẪN TRÊN CAO VỜI VỢI TỎA SÁNG (14/01/2026)
♦ TÔI ĐÃ ĐỌC NHỮNG BÀI THƠ CÓ LẼ LÀ CUỐI CÙNG CỦA NGUYỄN HUY THIỆP (14/01/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1863116
Trong thang Trong tháng: 172474
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 77607
Truc tuyen Trực tuyến: 2

...

...

Designed by VietNetNam