• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
NHÀ THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI - TỪ THÂN PHẬN GIỚI HẠN ĐẾN CÕI VÔ HẠN THI CA

NHÀ THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI - TỪ THÂN PHẬN GIỚI HẠN ĐẾN CÕI VÔ HẠN THI CA



NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 14 Tháng 2, 2026 lúc 17:47

Thân thể bị giới hạn bởi bệnh tật từ thuở nhỏ, nhưng tâm hồn Đỗ Trọng Khơi chưa bao giờ chịu khuất phục. Nằm trên giường bệnh, ông mở ra một thế giới vô hạn bằng thơ ca. Trong những vần thơ mùa thu buồn đẹp, ta bắt gặp nghị lực sống phi thường cùng khát vọng tìm kiếm dấu chân vĩnh hằng của một thi sĩ hiếm có.

Dù mang trên mình trọng bệnh nhưng nhà thơ Đỗ Trọng Khơi đã mở ra một thế giới vô hạn bằng thơ ca.

Có những cuộc gặp gỡ trên đời dường như được sắp đặt bởi nhân duyên. Tôi tình cờ quen biết Đỗ Trọng Khơi qua những dòng viết về sư Minh Tuệ. Từ sự đồng cảm ấy, tôi bước vào thế giới riêng của Khơi, nơi những câu chữ thấm đẫm tình người, tình đời, và đặc biệt là tình thu.

Đọc thơ Khơi, người ta không chỉ gặp một thi sĩ viết về lá vàng, trăng gió, heo may, mà còn bắt gặp một linh hồn đã trải qua bao thử thách, bệnh tật, nỗi đau thể xác, để rồi vẫn kiên định sống, viết và yêu. Cuộc đời anh chính là minh chứng cho một nghị lực phi thường: một cơ thể bị giới hạn, nhưng một tâm hồn thì không. Anh mở rộng thế giới của mình bằng văn chương, bằng mùa thu, bằng khát vọng sống dâng trào như trái chín cuối mùa.

Khơi vốn là một nhà thơ không xa lạ trong thi đàn. Nhưng khác với nhiều thi sĩ, anh đến với thơ trong một tình thế khắc nghiệt khi mang trên mình trọng bệnh, phần lớn đời sống gắn liền với giường bệnh, với đôi nạng gỗ, với hơi thở khó nhọc. Thế nhưng, từ “cõi giới hạn” ấy, anh đã mở ra “cõi vô hạn” của thi ca.

Thơ đối với Khơi không chỉ là nghệ thuật, mà còn là sự cứu rỗi. Viết, với anh, là cách để thở, để tồn tại, để khẳng định bản ngã. Vì thế, từng câu thơ của Khơi đều chứa đựng sức nặng tinh thần. Đằng sau những vần thơ buồn là một ý chí kiên định, không chịu khuất phục trước số phận.

Anh từng tự hỏi: “Tôi yêu mùa thu, phải vì thu có nét giống như người trọng bệnh là tôi?” Câu hỏi ấy vừa là lời tự thú, vừa là một triết lý nhân sinh. Mùa thu – mùa của lá rụng, của sự phai tàn, nhưng cũng là mùa của sắc vàng rực rỡ, của trái chín viên mãn. Phải chăng chính sự đồng điệu ấy khiến Khơi chọn mùa thu làm tri kỷ?

Trong chùm thơ về mùa thu của Đỗ Trọng Khơi, có lẽ “Ghi ở thôn Trăng” và “Đêm thu” để lại dư ba nhiều nhất.

“Ghi ở thôn Trăng” mở ra bằng sự im lặng:“Chẳng làm gì khác hơn là im lặng/ buổi chiều nay trăng sắp cất đi rồi”. Cái im lặng ấy không phải hư vô, mà là sự lắng đọng trước một vẻ đẹp quá sức chịu đựng. Trăng, mắt, môi, những hình ảnh gợi tình yêu, đành giấu kín, bởi trong khoảnh khắc ấy, chỉ có thể lặng nhìn. Đẹp đến mức lời bất lực, chỉ còn im lặng.

Hình ảnh “một ít nắng rất nhiều trăng và gió / khói trắng dâng hồn quê kiểng ngang trời” mang đến cảm giác mênh mang, vừa thực vừa ảo. Mùa thu trong thơ Khơi không chỉ là cảnh sắc, mà là một không gian tâm linh, nơi mẹ gánh ngày đi, nơi thôn nữ nở nụ cười lộc mùa vui. Đó là mùa thu của quê hương, gắn với lao động, với con người, chứ không chỉ là phong cảnh hữu tình.

Trong khi đó, “Đêm thu” lại đi vào chiều sâu triết lý: “Người về đâu tuổi người trăm năm/ mộng trần gian con đường xa xăm/ người tìm người dấu chân vĩnh hằng”.  Ở đây, mùa thu trở thành ẩn dụ cho kiếp người. Lá vàng, trăng sáng, sương buông, tất cả đều gợi ra vòng tuần hoàn sinh, diệt. Giữa sự mong manh ấy, con người đi tìm “dấu chân vĩnh hằng”, khát vọng vượt thoát hữu hạn, tìm ý nghĩa trong cõi vô cùng.

Cái buồn trong thơ Khơi không làm người ta bi lụy, mà khiến ta ngẫm ngợi. Đó là thứ buồn đẹp, buồn nâng đỡ, buồn để con người thấy mình nhỏ bé mà gắn bó hơn với đời sống.

Đọc thơ Khơi, tôi bỗng nhớ đến mùa thu vàng nước Nga, nơi nữ thi sĩ Onga Becgon (Olga Berggolts) đã để lại những vần thơ bất hủ. Bà là tiếng nói của Leningrad trong vòng vây khắc nghiệt, người đã biến thơ ca thành nguồn sức mạnh tinh thần. Giữa đạn bom, mùa thu vẫn hiện lên trong thơ bà như một chứng nhân của niềm tin.

Olga viết: “Mùa thu đã đến, mây như khói mỏng, / và trái tim tôi ấm áp lạ thường”. Trong cái lạnh cắt da của chiến tranh, bà vẫn nhìn thấy một sự sưởi ấm từ sắc thu. Ở một câu khác, bà ghi lại: “Tôi sẽ nhớ mãi mùa thu vàng rực ấy, / khi thành phố chúng ta còn đứng hiên ngang”. Mùa thu trong thơ Olga là biểu tượng của sự kiên cường, của cái đẹp vĩnh cửu giữa phai tàn.

So sánh với Đỗ Trọng Khơi, ta thấy một nhịp đồng điệu kỳ lạ. Nếu Olga dùng mùa thu để giữ lại niềm tin cho cả thành phố, thì Khơi chọn mùa thu để giữ lại niềm tin cho chính mình, một thi sĩ nằm trên giường bệnh. Nếu mùa thu Nga vàng rực trong khói lửa chiến tranh, thì mùa thu thôn Trăng của Khơi vàng ấm trong khói lam chiều và trong nụ cười thôn nữ.

Cả hai đều chung một khát vọng, đó là tìm trong cái mong manh của mùa thu một dấu hiệu của sự bất tử. Đằng sau lá vàng rơi là ánh sáng nhân sinh, đằng sau buồn đẹp là sức mạnh tinh thần.

Cuộc đời Đỗ Trọng Khơi là minh chứng cho một sự thật: Thân thể có thể bị giới hạn, nhưng tinh thần thì không. Anh đã biến nỗi đau thành nguồn năng lượng, biến mùa thu thành tri kỷ, biến thơ ca thành con đường đi tìm “dấu chân vĩnh hằng”.

Hai bài thơ “Ghi ở thôn Trăng” và “Đêm thu” không chỉ là những khúc nhạc thu buồn đẹp, mà còn là lời tự sự về một kiếp người kiên cường. Đọc chúng, ta vừa thấy xao xuyến bởi sắc vàng mùa thu, vừa thấy ấm áp bởi nghị lực sống của một thi sĩ.

Và có lẽ, khi mùa thu về, ta sẽ nhớ đến Khơi như nhớ một người bạn đã chọn mùa thu làm ngôi nhà tinh thần của mình. Trong nỗi buồn của lá vàng, ta vẫn thấy nụ cười lộc mùa vui. Trong dự cảm rơi rụng, ta vẫn thấy trái chín viên thành. Và trong cõi hữu hạn của đời người, ta vẫn thấy một dấu chân vĩnh hằng mang tên Đỗ Trọng Khơi.

Thơ Đỗ Trọng Khơi giàu chất suy tưởng, nặng lòng với nhân sinh.

Đỗ Trọng Khơi – Đời và thơ

Tên thật là Đỗ Xuân Khơi, sinh ngày 17.7.1960, quê tại Trần Xá, Văn Cẩm, Hưng Hà, Thái Bình (nay là Hưng Yên). Năm 8 tuổi, đang học lớp 1 thì ông bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp, dính khớp teo cơ. Đến lớp 4, ông phải nghỉ học vì bệnh nặng, từ đó gắn liền với giường bệnh. Không để tháng ngày trôi uổng phí, ông tự học qua sách, bắt đầu sáng tác thơ, truyện, ca khúc từ cuối những năm 1980.

Năm 2001, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Dù nằm nghiêng trên chiếc giường đơn sơ, gối đầu lên sách và bên cạnh chiếc máy tính cũ kỹ, ông vẫn xuất bản được 12 tập thơ, truyện ngắn, bình thơ và đoạt nhiều giải thưởng văn học uy tín.

Tác phẩm tiêu biểu: Con chim thiêng vẫn bay; Tháng mười thương mến; Trước ngôi mộ thời gian; Gọi làng

Thơ Đỗ Trọng Khơi giàu chất suy tưởng, nặng lòng với nhân sinh, đặc biệt gắn bó với mùa thu – mùa của buồn đẹp, phai tàn và viên mãn.

LÊ THỌ BÌNH

Báo Dân Việt



Tin tức khác

· DẤU XƯA NHẤT LINH
· NHÀ THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI - TỪ THÂN PHẬN GIỚI HẠN ĐẾN CÕI VÔ HẠN THI CA
· KÝ ỨC VỀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO KIÊN ĐỊNH, CÓ TẦM NHÌN VƯỢT THỜI GIAN
· NGUYỄN HẢI YẾN - NGƯỜI MỞ RỘNG CÕI TRẦN GIAN - Tiểu luận MAI TIẾN NGHỊ
· NHỮNG HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI TRONG TẬP SÁCH 'VĂN HỌC CỔ VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA'
· TRẠNG BÙNG PHÙNG KHẮC KHOAN - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP - Tiểu luận HỮU THỈNH
· NHÀ VĂN VŨ TRỌNG PHỤNG - TÀI NĂNG LỚN, ĐAU ĐỚN LẮM
· TƯỢNG ĐÀI CỦA VĂN HỌC HIỆN ĐẠI SÉC
· NGƯỜI TRAI LÀNG TỪ CHIẾN TRƯỜNG TRỞ VỀ
· BÀN THÊM VỀ TRUYỀN THUYẾT CỘI NGUỒN DÂN TỘC
· TIẾNG VIỆT GIÀU VÀ ĐẸP: 'NƯỚC MẸ' LÀ GÌ? - Tiểu luận LÊ MINH QUỐC
· NỮ THI SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM LÀ AI?
· NHÀ THƠ THANH THẢO - THI CA CỦA NGƯỜI LÍNH VƯỢT QUA CHIẾN TRANH VÀ MẤT MÁT
· VÕ HỒNG - NGƯỜI ĐỨNG NGOÀI DÒNG THỜI ĐẠI
· NHỚ ANH PHẠM TIẾN DUẬT - NGỌN CỜ ĐẦU CỦA THƠ CA CHỐNG MỸ, NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA QUÊ HƯƠNG ĐẤT TỔ
· THI SĨ THÁI CAN - NGƯỜI HỌA THƠ BẰNG NHẠC ĐIỆU - Tiểu luận LA NGUYỄN HỮU SƠN
· NHÀ THƠ BẰNG VIỆT - NGƯỜI GIỮ LỬA THƠ CA
· VỀ NGUỒN GỐC BÀI THƠ 'NAM QUỐC SƠN HÀ'
· GÃ DU CA ĐỨC ĐỘ VÀ NỖI CÔ ĐƠN CỦA CHÀNG LÍNH NGỰ LÂM CUỐI CÙNG
· TRẦN TIẾN - NGƯỜI HÁT THƠ MÌNH

Tin tức mới
♦ CHÙM THƠ HOÀNG QUÝ - KHI NGUYỄN ĐAU NỖI KIỀU BẠC PHẬN (15/02/2026)
♦ DẤU XƯA NHẤT LINH (15/02/2026)
♦ NHÀ THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI - TỪ THÂN PHẬN GIỚI HẠN ĐẾN CÕI VÔ HẠN THI CA (15/02/2026)
♦ KÝ ỨC VỀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO KIÊN ĐỊNH, CÓ TẦM NHÌN VƯỢT THỜI GIAN (15/02/2026)
♦ CHÙM THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN - LẼ GÌ NƯỚC MẮT TRONG ĐỜI MẶN HƠN (13/02/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1885705
Trong thang Trong tháng: 172474
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 80557
Truc tuyen Trực tuyến: 12

...

...

Designed by VietNetNam