TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NHÀ THƠ HOÀI VŨ VÀ TÔI - Tiểu luận THANH THẢO
NHÀ THƠ HOÀI VŨ VÀ TÔI - Tiểu luận THANH THẢO
NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 14 Tháng 3, 2026 lúc 18:50
Nhà thơ Hoài Vũ sinh 1935, vậy là ông hơn tôi 11 tuổi. Tôi rất tự hào vì là đồng hương Mộ Đức, Quảng Ngãi với ông. Và điều đặc biệt hơn, giữa hai chúng tôi luôn chảy một dòng sông mang tên Vàm Cỏ Đông. Hoài Vũ bám sông Vàm Cỏ Đông lâu hơn tôi, khi tôi chỉ bám dòng sông này hai năm cuối cùng của cuộc chiến. Năm 1963, ông cùng các văn nghệ sĩ: Trần Đình Vân, Ngô Y Linh, Kim Chi, Hồng Sến, Thái Ly… đã có mặt ở chiến trường Nam Bộ (B2). Tới năm 1971, tôi mới có mặt ở chiến trường Nam Bộ (B2).
Nhà thơ Hoài Vũ
Dù khác tuổi nhau, chúng tôi lại có nhiều điểm giống nhau, từ quê hương cho tới chiến trường nơi mình góp mặt. Có một điểm giống nhau mà ít người biết, là hai chúng tôi khi xuống chiến trường thường rất thương yêu, rất khâm phục các em giao liên. Đó là những người lính không có quân hàm, nhưng luôn đi đầu trong các cuộc dẫn quân, và họ là những người dễ bị hy sinh nhất. Anh Hoài Vũ đã có những bài thơ về các em giao liên, tôi cũng có những bài thơ như vậy. Nếu bài thơ mang tên Vàm Cỏ Đông được Hoài Vũ sáng tác từ năm 1963, ngay khi anh vừa đặt chân đến Long An, thì bài thơ Vàm Cỏ Đông của tôi viết năm 1973, ngay tại thượng nguồn sông Vàm Cỏ Đông.
Nói về những em giao liên, thì nhà thơ Hoài Vũ kể: “Năm 1968, khi theo đại quân vào Sài Gòn, không may tôi bị sốt rét phải nằm lại Trạm giao liên Đồng Tháp Mười. Tại đây, tôi đã gặp 5 – 6 nữ giao liên. Tôi đặc biệt có cảm tình với một cô tên là Lan. Đến năm 1971, khi tôi quay lại thì cả rừng tràm đã xác xơ vì bom đạn tàn phá và tôi rất buồn khi biết tin Lan đã hy sinh. Một đêm, cảm xúc đau xót và mất mát ùa ra, tôi viết ngay được bài thơ Đi trong hương tràm, trong đó có hai câu: “Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng/ Hương tràm bên anh mà em đi đâu?“…
Thơ Hoài Vũ đầy cảm xúc vì nó luôn được viết từ sự thật ở chiến trường. Thơ tôi cũng vậy. Chỉ viết từ cảm xúc, và viết chân thật tới tận cùng. Hai chúng tôi luôn gặp nhau ở chỗ đó. Nhưng tôi rất buồn mỗi khi nhắc đến thơ anh Hoài Vũ, thơ hay như thế, xúc động như thế nhưng người ta chỉ biết những ca khúc phổ thơ ấy. Nhiều nhạc sĩ đã “bỏ quên” tác giả thơ khi nếu không có những bài thơ ấy, họ làm sao phổ thành những ca khúc chinh phục lòng người như vậy ?
Bản tính rất khiêm nhường của nhà thơ Hoài Vũ đã khiến anh bị khuất lấp, kể cả với những Hội đồng xét Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh. Cho tới giờ, anh vẫn chưa nhận được hai giải thưởng ấy. Đó không chỉ là thiệt thòi cho anh, mà thiệt thòi cho chính văn học thời chống Mỹ cứu nước.
Trên tinh thần yêu cầu sự công bằng cho nhà thơ Hoài Vũ và cho văn học Giải phóng miền Nam, tôi dề nghị Hội đồng xét giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2026-2027 này cần vinh danh nhà thơ Hoài Vũ với giải thưởng xứng đáng nhất là Giải thưởng Hồ Chí Minh. Năm nay anh Hoài Vũ đã 91 tuổi, thời hạn sống trên đời của anh không còn dài nữa, vì vậy Hội đồng xét giải thưởng văn học nên đặc biệt chú ý tới trường hợp này. Để “Không một ai bị lãng quên, không một cái gì bị quên lãng” như câu thơ tuyệt vời của nữ thi hào Liên Xô Olga Berggolts.
Bản tính rất khiêm nhường của nhà thơ Hoài Vũ đã khiến anh bị khuất lấp, kể cả với những Hội đồng xét Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh. Cho tới giờ, anh vẫn chưa nhận được hai giải thưởng ấy. Đó không chỉ là thiệt thòi cho anh, mà thiệt thòi cho chính văn học thời chống Mỹ cứu nước.
Nhân đây, tôi xin công bố lại mấy bài thơ rất nổi tiếng của nhà thơ Hoài Vũ để bạn đọc thưởng thức:
Vàm Cỏ Đông
Ở tận sông Hồng, em có biết
Quê hương anh cũng có dòng sông
Anh mãi gọi với lòng tha thiết:
Vàm Cỏ Đông! Ơi Vàm Cỏ Đông!
Đây con sông xuôi dòng nước chảy
Bốn mùa soi từng mảnh mây trời
Từng ngọn dừa gió đưa phe phẩy
Bóng lồng trên sóng nước chơi vơi
Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ
Chở tình thương trang trải đêm ngày
Đây con sông như dòng lịch sử
Sáng ngời tên từ thuở Cha Ông
Đã bao phen đoàn quân cảm tử
Vùi đáy sông xác giặc tanh nồng
Ơi Vàm Cỏ Đông! Ơi con sông
Nước xanh biêng biếc chẳng thay dòng
Đuổi Pháp đi rồi, nay đuổi Mỹ
Giặc đi đời giặc, sông càng trong
Có thể nào quên những đêm thâu
Thức với sao đêm, anh đánh tàu
Má đem cơm nóng ra công sự
Nghe tàu Mỹ rú, giục “ăn mau”
Có thể nào quên cô gái thơ
Bơi xuồng thoăn thoắt dưới trăng mờ
Đưa đoàn “Giải phóng” qua sông sớm
Bên sông, bót giặc đứng sờ sờ
Có thể nào quên những con người
Tóc còn xanh lắm, tuổi đôi mươi
Dám đổi thân mình lấy tàu giặc
Nụ cười khi chết hãy còn tươi
Vàm Cỏ Đông đây, ta quyết giữ
Từng chiếc xuồng, tấm lưới, cây dầm
Từng con người làm nên lịch sử
Và dòng sông trong mát quanh năm
Vàm Cỏ Đông đây, ta quyết giữ
Từng mái nhà nép dưới rặng dừa
Từng thửa ruộng ngời đen màu mỡ
Từng mối tình hò hẹn sớm trưa…
Ở tận sông Hồng, em có biết
Quê hương anh cũng có dòng sông
Anh mãi gọi với lòng tha thiết
Vàm Cỏ Đông! Ơi Vàm Cỏ Đông!
Long An, tháng 8.1964
Đi trong hương tràm
Em gửi gì trong gió trong mây
Để sáng nay lên Vàm Cỏ Tây
Hoa tràm e ấp trong vòm lá
Mà khắp nơi mây hương toả bay!
Dù đi đâu dù xa cách bao lâu
Dù gió mây kia đổi hướng thay màu
Dù trái tim em không trao anh nữa
Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau
Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu
Có nỗi thương đau có niềm hy vọng
Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng
Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?
Dù đi đâu và xa cách bao lâu
Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát
Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát
Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao…
1.1983
(Bài thơ này đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành bài hát cùng tên).
Hoàng hôn lặng lẽ
Anh phải về thôi, xa em thôi!
Ngoài kia phiên chợ vãn lâu rồi
Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc
Mà lời từ biệt chẳng lên môi
Anh phải về thôi, xa em thôi!
Xa vườn xưa, đôi chiền chiện tha mồi
Hoa khế rụng tím ngầm hầm bí mật
Để mãi lòng ta xao xuyến bồi hồi….
Anh như cơn gió bay khắp chốn
Để lại mình em với ruộng, với vườn
Mồ hôi đổ giữa ngày mùa bận rộn
Nước mắt trào lạnh buốt những đêm sương!
Xa em, anh như tia nắng đi trên cát
Thèm một dòng sông, những cánh đồng…
Xa em, anh như người hát sau đêm hát
Chỉ thấy gió vật vờ qua những tấm phông
Anh đi em nhé! Lòng nhủ khẽ
Hoàng hôn cũng về, dịu êm và lặng lẽ
Một tiếng còi tàu vọng lại phía sông xa
Như muốn nhắc thầm anh: Cơn bão sắp đi qua…
9.1989
(Bài thơ này đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành bài hát Chia tay hoàng hôn).
Gửi miền hạ
Anh ở đầu sông em cuối sông
Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông
Thương nhau đã chin ba mùa lúa
Chưa ngày gặp lại, nhớ mênh mông!
Ôi bát ngát chân trời miền hạ
Tím tình yêu, tím cả ước mong
Gió nhớ thương ai mà lay bờ lá
Để bìm bịp kêu con nước lớn ròng…
Năm xưa đứng gác Vàm Nhựt Tảo
Tân Trụ đang mùa gạo ngát hương
Em đến trao anh nắm cơm thơm thảo
Cơm trắng mà em… má ửng hường!
Hạnh phúc đến xanh như màu lá
Và nồng thơm mùi thơm của rạ
Đêm xôn xao, sao gắn đầy trời
Tình anh là Vàm Cỏ, em ơi!
Từ buổi có em, anh thêm yêu đất
Quí gạo Nàng Thơm, thương cá bống kèo
Một tiếng ầu ơ cũng đầm nước mắt:
“Anh đi rồi, miền hạ nhớ mang theo…”
Ơi miền hạ, đêm nào chẳng nhớ
Chẳng ở buồng tim như một mũi kim
Xích xe Mỹ cày lên phố chợ
Sân nhà ai đổ nát, im lìm…
Cây bần hò hẹn không còn bóng
Cầu ao em gội đổ chơ vơ
Đêm đêm nghe rì rầm tiếng sóng
Như thầm kêu du kích ven bờ.
Ăn hạt gạo quê nhà em gởi
Biết mấy yêu thương, mấy nghĩa tình
Anh hiểu giữa bom rền, pháo dội
Em dám bỏ mình cho cây lúa hồi sinh
Cầm lên tay chiếu này em dệt
(Giữa trận càn vẫn dệt phượng loan!)
Em ơi em, mùa đông sẽ hết
Bởi tình em đã thắng cơ hàn!
Ơi miền hạ, đêm nào chẳng rõ
Tiếng của người rền động không trung
Hồn Trung Trực cũng thành thuốc nổ
Trên vành đai Nhựt Tảo oai hùng.
Đất quê ta xanh xanh triền lá
Giặc nhảy vào, lá hoá rừng chông
Nước quê ta dập dềnh tôm cá
Giặc lội vào, nước dựng thành đồng
Ngày em đi cấy, đêm đi kích
Một nắng hai sương, má rám hồng
Chẳng được cùng em vào chiến dịch
Nghĩ dạo này… thêm nhớ mênh mông.
Em bảo có về, về sớm sớm
Tân Trụ độ rày lúa ngát hương
Ôi miền hạ, vàng thơm mùa cốm
Nhớ chày ai… đêm mộng lên đường
Anh ở đầu sông, em cuối sông
Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông
Thương nhau, ta hẹn trong mùa tới
Anh đón em về, thoả chờ mong!
(Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc thành bài hát Anh ở đầu sông, em cuối sông vào năm 1978).
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.