TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Tin văn
PHAN BỘI CHÂU VÀ Ý NGHĨA CỦA NHỮNG CÁI TÊN
PHAN BỘI CHÂU VÀ Ý NGHĨA CỦA NHỮNG CÁI TÊN
Hồ Tấn Nguyên Minh
Phan Bội Châu là nhà ái quốc vĩ đại đồng thời là một nhà văn, nhà thơ lớn. Con người ấy từng là linh hồn của dân tộc trong những năm tháng đau thương đầu thế kỉ, là biểu tượng của một thời khổ nhục nhưng vĩ đại…
Sự nghiệp cách mạng của ông tuy thất bại nhưng con người đã dám từ bỏ tất cả, đem chí anh hùng và lòng quả cảm ra đền nợ nước ấy đáng được lưu danh muôn đời. Bài viết này không có ý định tìm hiểu về cuộc đời Phan Bội Châu, cũng không nghiên cứu về thơ văn của ông. Chỉ xin đề cập đến một vấn đề nhỏ: Phan Bội Châu và ý nghĩa những cái tên.
Phan Bội Châu có khá nhiều tên và hiệu. Mỗi cái tên đều mang một ý nghĩa riêng, thể hiện hoài bão, khí phách và tâm hồn ông. Thuở nhỏ ông có tên là Văn San, “ San” là san hô, một sinh vật quý và cứng cỏi giữa lòng biển khơi. Cái tên thuở ấu thơ ấy chứa đựng khát vọng về một kẻ sĩ chân chính, một nhà Nho “ Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Và trong cuộc đời mình, dù lúc tung hoành Bắc Nam, lúc “ vượt bể Đông theo cánh gió” hay khi bị giam lỏng ở Huế, sống cuộc đời của con chim bằng gãy cánh, con hổ sa cơ với biệt danh Ông Già Bến Ngự, Phan Bội Châu luôn giữ vững khí tiết và nhân cách sáng trong như loài san hô cao quý. Về sau ông lấy tên là Bội Châu, xuất phát từ câu thơ cổ “ Thành trung nga mỹ nữ. Châu bội hà san san” ( Người con gái mày ngài. Đeo ngọc châu lẻng xẻng). Cái tên Bội Châu ( Ngọc châu) thể hiện sự tự hào, sự ý thức sâu sắc của ông về tài năng, nhân cách, về sự cao quý của mình. Trên bước đường cách mạng, Phan Bội Châu lại lấy hiệu là Thị Hán ( Tức một hảo hán chân chính) với mơ ước trở thành một người anh hùng dọc ngang trời đất, đạp bằng mọi bất công. Song, đặc sắc nhất và gợi nhiều trìu mến nhất vẫn là cái hiệu Sào Nam, lấy ý từ đôi câu thơ cổ “ Hồ mã tê Bắc phong. Việt điểu sào Nam chi” ( Ngựa Hồ kêu gió Bắc. Chim Việt đậu cành Nam). Lấy hiệu Sào Nam, Phan Bội Châu thể hiện tấm lòng yêu nước thiết tha. Như con chim Việt dù bay lượn trên đất Bắc vẫn không quên chọn cành Nam để đậu, dù bôn ba nơi đâu, dù chạy vạy chốn nào, Phan Bội Châu vẫn hướng về cố quốc, vẫn thường trực trong lòng tâm sự hoài hương. Tâm sự hoài hương, tấm lòng yêu nước ấy thể hiện rõ trong những vần thơ của nhà chí sĩ:
“ Nay ta hát một thiên ái quốc
Yêu gì hơn yêu nước nhà ta Trang nghiêm bốn mặt sơn hà, Ông cha để lại cho ta lọ vàng.”
( “ Ái quốc” – Phan Bội Châu )
Ý nghĩa của bấy nhiêu cái tên đủ để thấy con người này quyết không chịu làm thân nô lệ, không cam tâm thu mình trong vòng khoa cử để cầu cái lợi vinh thân. Từ trong tâm khảm, Phan Bội Châu muốn làm ngọc quý giữa tăm tối bùn lầy, muốn làm con chim Việt đậu cành Nam luôn vọng về tổ quốc, muốn làm một hán tử đạp bằng mọi bất công. Hoài vọng ấy thể hiện một nhân cách vĩ đại, thể hiện tầm vóc của một người anh hùng xoay chuyển càn khôn.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.