TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
THƠ VUA THIỆU TRỊ - NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT
THƠ VUA THIỆU TRỊ - NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT
NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 15 Tháng 1, 2026 lúc 14:58
Nhà thơ, nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung vừa được trao Giải A (về văn học) tại Lễ trao thưởng ở Hà Nội. Cũng khá lâu rồi, văn nghệ Huế mới có tác giả đoạt Giải A về văn học trong cuộc Tổng kết trao giải hàng năm của Liên hiệp các Hội VHNT toàn quốc. Mời bạn đọc bài của Nguyễn Khắc Phê về công trình này vừa đăng trong sách “Cây đời mãi xanh trên trang sách” và báo Huế ngày nay” số ra ngày 13.1.2026.
Nhà thơ – nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung giới thiệu bản gốc tập thơ của Hoàng Đế Thiệu Trị ấn hành 1844 Ảnh: L.T.P
Trong các đời vua Triều Nguyễn, lâu nay vua Thiệu Trị (1807-1847) không được công chúng và dư luận chú ý bằng vua Minh Mạng, Tự Đức và thậm chí cả vua Bảo Đại, do nhà vua tại vị chỉ 7 năm (1841-1847); thời gian này giang sơn đất nước đã được vua cha Minh Mạng sắp đặt yên ổn, giặc Tây còn ở xa nên chính sự cũng không có những vấn đề phải lựa chọn, đối phó căng thẳng… Khách du lịch đến Huế càng it biết đến vua Thiệu Trị vì… lăng của nhà vua khiêm tốn, không hoành tráng và có các nét đặc sắc như lăng vua Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định…
Điểm qua đôi điều ngoài thi ca, trước khi mời các bạn đến với một công trình còn nhiều cái đẹp, cái lạ, cái bất ngờ không kém chi lăng Minh Mạng và lăng Tự Đức. Đó là công trình chữ nghĩa mà Nguyễn Phước Hải Trung (NPHT) đã tốn không biết bao nhiêu là công sức, tâm huyết mới làm nên. Có thể nói như vậy vì từ hơn hai chục năm trước, trong cuốn sách “Chơi chữ Hán Nôm – Những bài thơ độc đáo” (NXB Thuận Hóa, 2002), Hải Trung đã rất thích thú giới thiệu bài thơ “VŨ TRUNG SƠN THUỶ” của vua Thiệu Trị.
Tác phẩm đặc biệt này được khảm trai (cẩn xà cừ) hiện đang treo trên vách điện Long An (Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế), chỉ 56 chữ mà biến hoá tài tình. Năm 1994, Nguyễn Tân Phong đã giải mã đọc thành 64 bài tứ tuyệt và tiếp đó, G.S Nguyễn Tài Cẩn lại đọc được thành 64 bài bát cú. Đây là thể thơ hồi văn liên hoàn, nghĩa là xuất phát từ điểm nào cũng có thể đọc thành câu, thành bài…Nhà vua không chỉ trổ tài kiểu chơi chữ hồi văn liên hoàn mà từ sơ đồ nguyên văn chữ Hán, Hải Trung đã có nhận xét cấu trúc bài thơ liên quan đến Dịch học…
Trong cuốn sách rất công phu dày trên 400.trang khổ lớn vừa xuất bản, Hải Trung đã có điều kiện “tổng kết” những thành tựu thi ca của vua Thiệu Trị.
“Thơ Hoàng đế Thiệu Trị đỉnh cao nghệ thuật ngôn từ” của Nguyễn Phước Hải Trung, NXB văn học, 2025
“Đó là người làm nhiều thơ nhất nước Việt Nam đến thời điểm hiện nay – người sáng tạo vận dụng nhiều thể thơ nhất thời trung đại – người yêu thơ hơn nhiều thứ “đáng yêu khác” – người đề vịnh nhiều chủ đề nhất trong sáng tác của mình – người suy tư trăn trở nhiều nhất về sáng tác thi phú…và nhiều điều khác nữa…”
Điều đặc biệt nữa, nhà vua không chỉ “chơi thơ chơi chữ”, tuy “vẫn chung một mạch rễ truyền thống từ thi dĩ ngôn chí và văn dĩ tải đạo”, vua Thiệu Trị đã nhiều lần trình bày rõ quan điểm của mình:
“Thơ là để nói rõ chí hướng, cốt để đào luyện tính tình cho người ta […] Này, thơ ở trong bụng là chí, nói ra là thơ, thơ để tả tính tình, chính giáo hóa, là lòng của trời đất đó […] Các bài thơ đều do trẫm nhân bụng nghĩ đến thì tả ra sự việc, cầm đến bút là xong thơ, trong đó đều là những lời nhắc nhở khuyên răn, cung kính cố gắng, thực muốn từ nhà rồi đến nước, cả quan và dân, vừa dạy vừa làm , mong cho nước được thịnh trị.”
Sau khi trích dẫn nguyên văn nhiều đoạn “tự bạch” của nhà vua, NPHT đã “nhận xét khái quát về quan niệm thơ của vua Thiệu Trị” gồm 5 điểm: – Thơ là công cụ giáo hóa và tự tu dưỡng…- Thơ gắn liền với đạo trị quốc và lòng yêu nước… – Thơ là sự kết hợp giữa tình cảm và trách nhiệm… – Thơ phải có cả cảm xúc lẫn kỹ pháp… – Thơ như một hình thức rèn luyện sự chăm chỉ…
Hơn thế, NPHT còn cho rằng vua Thiệu Trị là “Nhà lý luận phê bình, nghiên cứu văn học với tư duy sâu sắc […] ông không dễ tin theo sách vở một cách mù quáng , mà muốn phân biệt giữa “trí thức đích thực” với “truyền thuyết/huyền thoại”. Quan điểm này cho thấy ông là vị hoàng đế hiếm hoi có năng lực phê bình văn bản học, đi trước thời đại…”
Ngay trong một bài thơ viết trong dịp lễ Ban Sóc (Ban lịch vào tháng Chạp), nhà vua cũng thể hiện thơ luôn có mối quan hệ với chính sự. NPHT đã dịch bài thơ như sau:
Viết khi Ban lịch vào tháng Chạp
“Ngôi cao hòa với điềm lành ứng Chính thể tựa Nghiêu nối tiếp ngày/ Trời đất âm dương phân định rõ/ Kỷ cương phép tắc đế vương xây Được thời tươi đẹp tầng không sáng / Gặp vận ôn hòa tiết vận xoay/ Kế trị hàng năm ban lịch quý / Muôn nơi tuân phụng Đại Nam này.”
Có lẽ cần nói thêm: Việc chuyển ngữ thơ chữ Hán ra thơ Việt rất khó, nhất khi phải tạo bài thơ dịch có âm vận theo luật, do chữ Hán súc tích, lại lắm điển tích. Mặc dù NPHT đã rất công phu dịch toàn bộ các bài thơ trích dẫn, nhưng nếu vào “tay” chuyên gia Hán-Nôm khác, hẳn sẽ có cách dịch khác. Riêng bài thơ “Ban Sóc..”, NPHT đã phải dùng đến mấy “chú thích”; chỉ xin dẫn một chú thích để khỏi… hiểu lầm: ba từ “tầng không sáng” – không phải nói trời tối mà đây chỉ 3 loại ánh sáng từ thiên nhiên: mặt trời, mặt trăng và các vì sao (nguyên văn là “tam quang lãng”).
Nhà thơ – nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung vừa được trao Giải A (về Văn học)
Trong buổi giới thiệu cuốn sách mới “Thơ hoàng đế Thiệu Trị..” tại “Câu lạc bộ Sách và văn hoá Huế” ngày 8.9.2025, cũng như nhiều diễn giả khác, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã đánh giá cao công phu nghiên cứu của NPHT; riêng tôi rất thú vị khi nghe nhà thơ-nguyên Trưởng ban Tư tưởng và văn hoá Trung ương đề cập đến “Âm chất” là một trong 28 “phẩm hạnh” mà vua Thiệu Trị đã thể hiện khi viết chùm thơ “Đề phẩm hạnh nhị thập bát chương”.
Theo NPHT, đây là “chùm thơ có ý nghĩa sâu sắc về đạo đức và nhân cách con người…”; 28 “phẩm hạnh” đó là: Thánh triết – Hiền lương – Nhân từ -Nghĩa liệt – Lễ độ – Trí mưu – Tín thành (trung thực) – Hiếu đễ – Trung trinh – Đức hòa – Khoan thứ – Công bình – Chính trực – Tài năng – Luyện đạt – Thanh liêm – Tráng dũng – Cẩn thận – Tiết kiệm – Cần lao – Thông mẫn – Uyên bác – Khiêm nhượng – Cung kính – Cương nghị – Âm chất – Cao khiết – Tiết tháo. Có lẽ chưa ai nêu các tiêu chuẩn về “phẩm hạnh” đầy đủ như thế và phải có tài thơ như vua Thiệu Trị mới diễn đạt 28 “tiêu chuẩn” đó thành thi ca. Như tôi hiểu, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chú ý đến “Âm chất” vì điều này còn ít người quan tâm – các phẩm hạnh khác như Chính trực, Tiết kiệm v…v… thì nhiều người đã nói đến.
NPHT đã dịch bài thơ về “Âm chất” như sau:
“Trời đất sinh ra vạn vật thành/ Làm người tích thiện cháu con vinh/ Trăm năm phúc thọ trường tồn mãi/ Ba kiếp công hầu truyền nối danh.”
Cũng theo NPHT, “Âm chất” nên được hiểu là “Sự trầm lắng, kín đáo, nhưng sâu sắc, thể hiện sự nội tâm mạnh mẽ và không ngừng trưởng thành.” Và tuy chùm thơ đã xuất hiện khoảng 180 năm trước, nó vẫn “còn mang ý nghĩa và giá trị phổ quát phù hợp với bất cứ thời đại nào…”
Cũng trong buổi giới thiệu cuốn sách, nhà nghiên cứu – “Huế học” Nguyễn Đắc Xuân nêu kiến nghị: Với những giá trị và khối lượng thơ đồ sộ như thế, liệu các cơ quan văn hoá có thể lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Thơ vua Thiệu Trị là Di sản văn hoá được không?…
Riêng tôi nghĩ, trước khi đỉ ra thế giới, điều cần làm là tìm phương cách để những giá trị của hơn ba ngàn bài thơ của nhà vua hầu như chưa mấy người biết, càng ít người đọc được nguyên bản, có thể đến với công chúng, trước hết là những du khách đến Huế và quan tâm đến di sản văn hoá Triều Nguyễn .. Xin thử làm một việc nhỏ: Trưng bày và bán công trình nghiên cứu này tại các di tích như Đại nội Huế và lăng Thiệu Trị. Để việc quảng bá này có hiệu quả, trong thời đại “công nghệ số’ lên ngôi, thiết nghĩ nên làm một video với nội dung như NPHT đã thực hiện khá đẹp và công phu trong buổi giới thiệu sách nói trên.
Mặc dù rất ít người đọc được các bài thơ chữ Hán, nhưng với cách trưng bày thành bảng chữ đẹp và được nhà thơ hướng dẫn những thủ pháp nghệ thuật của nhà vua bằng ánh sáng, tác phẩm thuộc loại “hàn lâm” trở nên gần gũi với công chúng. Được biết, nhờ phương pháp quảng bá hiện đại này, buổi giới thiệu công trình Thơ vua Thiệu Trị ngày 14.9.2025 do Hội Đồng hương Thành phố Huế tại Hà Nội và Câu lạc bộ Văn hóa Huế phối hợp với Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn miếu Quốc Tử Giám và Thaihabook đã rất thành công…
Nhân đây, cũng xin đặt vấn đề: Tại sao lại không thể tổ chức một buổi giới thiệu như thế tại Bảo tàng văn học Việt Nam – một địa chỉ văn hoá gần đây được nhiều người tìm đến. Và nếu tôi không nhầm, tại Bảo tàng văn học Việt Nam, có đủ không gian trân trọng giới thiệu Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh, Tố Hữu… nhưng chưa có Thơ vua Thiệu Trị!…
Còn rất nhiều điều thú vị khi đọc công trình Thơ vua Thiệu Trị. Ví như bài học đào tạo người kế nhiệm – vua Minh Mạng đã hết mực chăm lo dạy dỗ hoàng tử/Nguyễn Phúc Dung (tên húy của nhà vua thuở nhỏ) mới có một tài thơ như vua Thiệu Trị… Nhưng thôi, để các bạn yêu Huế tìm sách đọc. Mặc dù đây là một tác phẩm kén độc giả, nhưng Giám đốc Công ty sách ThaihaBooks đã quyết định tái bản cả ngàn cuốn ngay trong buổi giới thiệu công trình mới của NPHT…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.