TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
BÙI GIÁNG - KỲ LẠ, NGANG TÀNG, TẬN HIẾN
BÙI GIÁNG - KỲ LẠ, NGANG TÀNG, TẬN HIẾN
MINH TUỆ
Khán phòng buổi tọa đàm khoa học đầu tiên về thơ Bùi Giáng (kể từ sau năm 1975 đến nay) do Trường ĐH KHXH&NV TP HCM cùng gia tộc họ Bùi ở Vĩnh Trinh (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) tổ chức vào sáng 14-9 tại Trường ĐH KHXH&NV TP nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của Trung niên thi sĩ (1998-2013) đầy ắp cử tọa. Tất cả đều ngồi cho đến phút cuối, nhiều người tới từ phương xa, mang đến nhiều trao đổi mang tính khơi mở những bí ẩn về Bùi Giáng.
Bùi Giáng là một nhà thơ tài năng kỳ lạ, nhà nghiên cứu triết học sâu sắc, nhà phê bình văn học uyên thâm và là một dịch giả tài hoa. Gần nửa thế kỷ sống và viết, ông đã xuất bản 25 tập thơ, 26 công trình nghiên cứu triết học, phê bình văn học, 16 tiểu phẩm; di cảo thơ của ông còn được cất giữ trong gia tài của những người yêu thơ.
“Bùi Giáng đem phong cách du mục vào thơ ca, một phong cách tràn đầy tự do, ngang tàng, táo bạo, bất chấp, phụng dâng, tận hiến, tung hê, cuồng ngạo. Mọi thứ trong thơ Bùi Giáng đều khác thường, lưu lãng, biến chuyển, đều trôi, bay, cuộn sóng, bão giông, quay cuồng, xô đẩy, ầm ào, lên đường, tách bến, ra khơi… Thơ Bùi Giáng là lời tụng ca trần thế, tụng ca cuộc sống. Trước cõi đời và mặt đất, thơ ông dâng lễ mừng, dâng lời tạ ơn. Với ông, đời là hội. Ông gọi trần gian là lễ hội. Ông gọi thi sĩ xưa nay là những người trẩy hội trần gian...” - nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đánh giá.
GS Huỳnh Như Phương cho rằng: “Cái độc đáo của Bùi Giáng ở chỗ thơ và người Bùi Giáng là sự kết hợp giữa thiên nhiên nguyên sơ, hoang dã và nhịp đời phố thị; gắn liền với kết hợp quê - phố đó là một kết hợp khác trong sự nghiệp của Bùi Giáng: kết hợp giữa cổ xưa và hiện đại, Đông phương và Tây phương; một đối cực khác được kết hợp trong tác phẩm và con người Bùi Giáng là sách vở, nhà trường trang nghiêm với cuộc đời nắng gió, bụi bặm, xô bồ. Đó cũng là kết hợp giữa quy cách và phá cách”.
“Đứng về mặt tâm lý sáng tạo và chức năng biểu hiện của văn bản, tác phẩm Bùi Giáng là sự pha trộn, nhập nhòa giữa thực và mộng, giữa tỉnh và mê. “Máu cuồng và hồn điên”, phải chăng là một tố chất nghệ sĩ? Điên là cách thoát khỏi thế giới thực tại để đi vào trong một thế giới huyễn ảo của tâm hồn. Nói cách khác, điên là lìa xa thế giới của người, ẩn sâu vào thế giới của mình, không còn bị gò bó, vướng bận...” - GS Huỳnh Như Phương nhận xét thêm.
Cũng theo GS Huỳnh Như Phương, lao động nghệ thuật của Bùi Giáng là sự kết hợp giữa nghĩ, viết và chơi. Có lẽ ông không phải là “phu chữ”, như cách nói của Lê Đạt, mà là “người nghịch chữ”. Ngôn ngữ Bùi Giáng là sự kết hợp giữa tục và thanh, trong tục có thanh, trong thanh có tục... Tuy nhiên, Bùi Giáng hiếm khi gắn cái sự nghịch ngợm đó khi phác vẽ hình tượng những người nữ yêu mến của ông. Tình yêu của ông với những người nữ ngoài đời hay trong tưởng tượng, từ cô mọi nhỏ đến những bậc nữ lưu danh giá như Phùng Khánh, Kim Cương, Hà Thanh, Marilyn Monroe, Brigitte Bardot… đều là tình yêu thánh hóa, tình yêu trong ý niệm theo kiểu Platon...
Có mặt tại hội thảo khoa học, nàng thơ của Bùi Giáng một thời - NSND Kim Cương - cùng ban tổ chức trao tặng những phần học bổng ý nghĩa, trong đó có một phần học bổng của riêng nghệ sĩ, dành tặng các học viên và nghiên cứu sinh có công trình về thơ Bùi Giáng.
Bùi Giáng đã không chỉ “trở lại” trong khán phòng hội thảo như một lời tiên tri ông từng viết trước khi mất mà thật sự luôn ở trong tâm trí của làng văn học Việt, như một thứ “của lạ”, “của hiếm”.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.