TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Tư liệu
THƠ BÍCH KHÊ TRONG KHÔNG GIAN SẦU MỘNG - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
THƠ BÍCH KHÊ TRONG KHÔNG GIAN SẦU MỘNG - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
Vanvn– Cập nhật ngày: 1 Tháng 2, 2026 lúc 21:29
“If a poem hasn’t ripped apart your soul, you haven’t experienced poetry” (Nếu một bài thơ chưa xé nát tâm hồn bạn, bạn chưa thực sự trải nghiệm thơ ca). Đọc câu này của nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, nhà thơ Mỹ Edgar Allan Poe (1809 – 1849), ta bất chợt nghĩ về Bích Khê của Việt Nam.
Nhà thơ Bích Khê
Và trên thực tế, với quan niệm thơ được thể hiện trong bài “Xuân Tượng trưng”: “Đêm nay, xuân đã lại/ Thuần túy và tượng trưng” và cả cuộc đời sáng tác của Bích Khê, ta nhận ra rất rõ những ảnh hưởng của E. A. Poe đối với sáng tác của Bích Khê.
Khi nghiên cứu về Bích Khê (1916 – 1946), nhiều người đã từng khẳng định: Chính thơ đã “xé nát tâm hồn”, đã “giết chết” Bích Khê. Tôi có cảm giác, dường như tất cả tinh lực sống của Bích Khê đã trút hết vào thơ, thơ là một thanh gươm sắc vung giữa không gian vũ trụ, “cắt mạch nguyệt”, “xẻ mạch trời”, khiến “mây xô sao” vang lên những âm thanh ghê rợn, “phăng mạch đêm” cho “hương vỡ, ứa ngầm tinh” thành những “tinh huyết”, “tinh hoa” để lại cho đời. Rồi một mình, không vợ con, rũ xác phàm ra đi khi chỉ vừa tròn 30 tuổi:
Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
Ô vung lên… cắt mạch nguyệt vàng xanh!
Xẻ mạch trời, – mây xô sao, răng rắc!
Phăng mạch đêm, – hương vỡ, ứa ngầm tinh!
Người cho ta một thanh gươm rất sắc?
– Ta điên rồ… múa giữa áng bình minh (Mộng cầm ca).
Có phải chính vì lẽ đó chăng mà không gian thơ Bích Khê là một không gian rộng rinh, rợn ngợp chứa chất rất nhiều những nỗi sầu đau.
Tất nhiên, sầu đau, bế tắc là tiếng nói chung của phong trào Thơ Mới 1932-1945, nhưng với tất cả những bất hạnh của đời mình, nỗi sầu của Bích Khê vẫn mang những nét buồn đau riêng biệt. Không gian sầu mộng trùm lên suốt cả cuộc đời Bích Khê từ những bài thơ đầu tiên trong “Mấy dòng thơ cũ” cho đến “Lời tuyệt mệnh” của đời mình.
1. Từ “Mấy dòng thơ cũ” đến “Thơ Mới đăng trên Tiểu thuyết thứ Năm”
Ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn trong “Mấy dòng thơ cũ”, ông đã rao bán nỗi sầu:
Bán sầu chi đó tệ
Xưa đã từng có kẻ bán hoàng thiên
Người bán trời không chứng mới là phiền
Còn tôi bán hàng sầu tiền chẳng lấy
Sầu nhấm ma men, men khó tẩy
Sầu mời thần ngủ, ngủ không ngon
Này sầu hoa sầu cỏ sầu núi sầu non
Sầu tất thảy bà con say tỉnh dở
Chưa nói đến tớ sầu vì tớ
Bôn ba mà vỡ lỡ nét tang thương (Bán sầu).
Sầu ngấm vào thơ nên sau đó, Bích Khê tiếp tục rao bán cả thơ:
“Năm trên tôi có bài rao “bán sầu” được một ít anh em mua cho, nói cho phải, món hàng không đến ế. Hiện món sầu bán đã gần hết, lục trong cái kho “não” lại còn món hàng “thi”, cả cũ cả mới cũng khá nhiều. Nay tôi muốn bán nốt món […] đến, xin tính giá rất rẻ và các nhà đại lý xin biếu cả 99%. Vậy có bài hát rao:
Năm trên tớ đã bán “sầu”,
Món hàng khá đắt khách cầu khách mua.
Còn món “thi” cũng của chua,
Khách nào có thích, tớ cũng bán đùa làm quen” (Bán thi).
Sầu đời chất chứa trong hồn thi sĩ nên sầu thơ lan cả ra ngoài “nghìn trùng” không gian xa rộng:
Sầu đâu sầu lạ sầu lùng
Sầu theo lẽo đẽo ngàn trùng cũng theo (Bán sầu)…
Đến những bài “Thơ Mới đăng trên Tiểu thuyết thứ Năm”, nỗi sầu đau đã cô đúc thành dòng lệ. Định nói với “bạn lòng”, nhưng không thể nói nên lời, đành lặng im để không gian cả một “trời thu rớm lệ” – những tràng lệ vàng đổ xuống bên song như mùa vàng của một trời lá thu rơi rụng:
Gì nghe rạo rực? Lệ chia đôi.
Sắp nói, ô kìa … sao im thôi?
Hay bởi ngoài song vàng rụng mãi
Trời thu rớm lệ, bạn lòng ơi! (Gió lạnh).
Và vì thế thu khóc cả đêm lẫn ngày, buồn thu tràn ngập cả trong không gian nắng dưới vòm trời xanh êm và trùm lên vạn vật:
Này thu rung trong nắng!
Này thu khóc trong đêm!
Và này, dưới xanh êm,
Thu buồn bên khóm liễu (Thu (I)).
Ta từng biết, Bích Khê là đỉnh cao của trường phái thơ tượng trưng trong phong trào Thơ Mới 1932 – 1945 và vì thế, cảnh vật nói riêng và không gian nói chung thường ít được “trưng bày” bằng cách miêu tả cụ thể của thơ lãng mạn ,kiểu như: “Hơn một loài hoa đã rụng cành/ Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh” (Đây mùa thu tới! – Xuân Diệu), hay: “Xơ xác hồ sen đã nhạt hương/ Bên song hoa lựu cũng phai hường/ Sớm mai lá úa rơi từng trận/ Bắt gặp mùa thu khắp nẻo đường” (Bắt gặp mùa thư – Nguyễn Bính)… mà mênh mang, đầy biểu tượng, có tính chất tượng trưng. Ở Bích Khê, nhìn không gian mùa thu, ta không đếm được “hơn một loài hoa đã rụng cành”, không thấy cụ thể “sắc đỏ”, “màu xanh”, “sen xơ xác trong hồ”, “lựu phai hương bên song”,“lá úa rơi trong sớm mai” cụ thể; mà cả một không gian “vàng phai ôm non gầy”, “chim eo mình nương xương cây” với cả một “mùa Hoàng hoa” nơi “thành xa…” hướng “đông nam” mờ mờ mây phủ:
Vàng phai nằm im ôm non gầy,
Chim Yên eo mình nương xương cây,
Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa;
Đông nam mây đùn nơi thành xa… (Hoàng hoa)
2. Từ “Tinh huyết” đến “Tinh hoa”
Sang tập “Tinh huyết”, hồn thơ với nhiều khát khao, nhiệt huyết, say mê hướng đến một bóng hình giai nhân tuyệt sắc, nhưng tất cả chỉ là hư không, “Không bóng! Không hình!”, không có cả tình yêu, chỉ rợn ngợp một không gian lạnh lẽo:
Anh tính – kề tay lên trái tim
Ta đòi nóng hổi với say im.
Nhưng chao! Sao chỉ không gian lạnh!
Không bóng! Không hình! – không có em! (Ảnh ấy).
Mộng mơ trắng cả đêm thâu, gửi tận lên không gian cao thẳm, gặp “người ngọc” Xuân Hương, nhưng nhấn dây tơ thì dây tơ loạn âm “buồn lơi lả”; đàn “nẩy điệu” phảng phất hương trăng tràn vào “con mộng lớn”, lan ra “muôn dặm sông Ngân”, ngời sáng tợ “ánh trân châu”,… Nhưng hỡi ôi! mộng không là thực. Cái mà người thơ nhặt được cụ thể trong “con mộng lớn” ấy chỉ là những cánh hoa rơi rụng, vì thế, dù có xây cả một “lầu mộng” thì sắp kín, phủ cả trên mặt lầu cũng chỉ là “những cánh đau thương”:
Mộng trắng phau phau, vót cung nga:
Xuân Hương! Người ngọc, máu say ngà!
Nhấn dây tơ loạn, – buồn lơi lả.
Đờn phất hương trăng, nẩy điệu ra…
Muôn dặm sông Ngân, con mộng lớn,
Ô! là đại điện ánh trân châu…
Có người thi sĩ nhặt hoa rụng
Những cánh đau thương sắp mặt lầu! (Mộng).
Với tất cả những đớn đau thể xác và tuyệt vọng của tâm hồn, khi thân xác “chết lạnh trôi đi” thì hồn thơ đã bay về chín suối. Chết mà không có ai từ bi cứu độ, nên hồn thơ tự nguyện đến quỳ trước cái Đẹp để xin được cúi đầu thí phát “quy y”:
Thơ bay về tắm mát suối âm ty
Xác tôi chết lạnh trôi đi –
Lấy ai siêu độ từ bi
Hồn xiêu hồn đến quy y bên nàng! (Thơ bay).
Sau lần “quy y” ấy, đến “Tinh hoa” – tập thơ cuối cùng của đời thơ bạc mệnh, dường như đã đắc đạo, không gian thơ của Bích Khê lúc này là cõi Thiên Thai với hình bóng những tiên đồng rảo bước giữa hoa, những chú bé cỡi lưng trâu thổi sáo với tất cả những “bí mật” của xứ sở mơ hồ sương khói:
Tiên đồng bước giữa hoa
Mục đồng lưng trâu cỡi
Thổi sáo bên rừng mai…
Bí mật trời Thiên Thai
Động Huyền Không bốc khói! (Ngũ Hành Sơn (Tiền)).
Nơi không gian ảo huyền ấy, trời và nước đều phủ trong làn sương mờ ảo, không còn phân biệt được. Ở đó có những làn mây biếc khỏa che nửa thân hình kiều diễm của các nàng “tiên nữ trắng tinh”, nhảy múa trập trùng “trên nền sóng rung rinh” đầy quyến rũ:
Trời nước lộn trong sương
Hình trập trùng múa nhảy
Trên nền sóng rung rinh
Những tiên nữ trắng tinh
Ngang thân làn biếc khỏa (Ngũ Hành Sơn (Tiền)) .
Người thơ và tình thơ lúc này như hai mảnh vỡ của “tinh hoa” kết tụ từ những “trái Đau Thương” giữa không gian của “ngai báu thiên đường”:
Hai ta là mảnh vỡ
Của ngai báu thiên đường;
Hai ta là chất bổ
Cắn ở trái Đau Thương …(Ngũ Hành Sơn (Tiền)).
Lúc ấy, ái ân được bắc bởi nhịp cầu Ô thước, cây lá của không gian Tiên cảnh đều trổ ngọc văn chương, thơ và tình yêu cùng “ôm nhau chết bên đường” để “trăng hạc rước” linh hồn về Thiên Thai bất tử:
– Ái ân là ô thước!
Cây ngọc trổ văn chương –
Lên chơi hòn Non Nước
Ôm nhau chết bên đường,
Mơ màng trăng hạc rước… (Ngũ Hành Sơn (Tiền)).
Như một lời tiên tri về “số mệnh thơ” mình, cả đến lúc nghĩ về nấm mộ – nơi chôn thân xác mình, Bích Khê cũng dựng lên một không gian vừa hiện thực (một nghĩa địa “đầy cỏ” với màu sắc “xanh xao” nơi “thôn già” quê cũ, trên nấm mồ có bóng đen một “con quạ đứng im hơi”) lại vừa lại rất thanh thản (có “gió tiêu” làm quạt buồn thổi hồn về viếng mộ nơi nghĩa địa làng có lớp lớp mây về che phủ):
Gió tiêu sẽ quạt buồn thanh tịnh
Về chốn thôn già viếng mả tôi
Đầy cỏ xanh xao mây lớp phủ
Trên mồ con quạ đứng im hơi. (Nấm mộ).
***
Vâng, mệnh thơ Bích Khê là số mệnh của một đời “tài hoa bạc mệnh”. Chính thơ đã “xé rách tâm hồn” đã “giết chết” Bích Khê, nên khi lặng lẽ gửi lại trần gian tuổi 30, để lại cho đời những “tinh hoa” xanh và rất nhiều “tinh huyết” đỏ, đời và đặc biệt là thơ ông vẫn còn tiếp tục bị bỏ quên và chịu nhiều bạc đãi của cả người đương thời và cả người đời sau đó. Nhưng rồi, như một lời tiên tri bất di bất dịch rằng, thơ mình, dù có bị chối bỏ vẫn sẽ mãi sáng soi trên trần thế. Không phải đợi đến “nghìn thu” như “Lời tuyệt mệnh” của tác giả:
Thân bệnh: ngô vàng mưa lá rụng;
Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi,
Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi (Lời tuyệt mệnh).
Mà chỉ non nửa thế kỷ sau, thơ ông đã trở thành bóng trăng lung linh về soi chung trong không gian trần thế. Người đời sau ghi nhận thơ ông là “bước phát triển thứ hai của Thơ Mới”, ông đại diện xứng đáng của trường phái thơ tượng trưng giai đoạn 1932 – 1945. Và những dòng thơ huyền diệu trong không gian sầu mộng ấy vẫn mải miết xuôi theo dòng chảy của dòng sông thời gian và vấn vít mãi cùng non nước:
Sông dài chảy tận về đâu?
Non xanh xanh mãi bên sầu thế nhân! (Giọt lệ trích tiên).
Nghĩa Lộ, tháng 9.25
MAI BÁ ẤN
——-
Bài viết Tưởng niệm 80 năm Ngày mất (17.1.1946 – 2026) và 110 năm Ngày sinh (24.3.1916 – 2026) nhà thơ Bích Khê
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.