TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
CUỘC 'HÀNH QUÂN' CUỐI CÙNG CỦA ĐẠI TÁ TÔN NỮ NGỌC TOẢN
CUỘC 'HÀNH QUÂN' CUỐI CÙNG CỦA ĐẠI TÁ TÔN NỮ NGỌC TOẢN
NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 17 Tháng 12, 2024 lúc 09:43
Sinh năm 1930 tại làng Lại Thế (ngoại vi Thành phố Huế), sống thọ đến 95 tuổi như chị Toản là rất hiếm. Do hai gia đình “ngày xưa” có chút thân quen, tôi xin được gọi người phụ nữ đặc biệt này là “Chị” như mỗi lần “chị-em” gặp nhau trước đây; chứ lẽ ra phải kèm thêm các chức vị: Đại tá – Giáo Sư – Bác sĩ, nguyên Chủ nhiệm Khoa sản Bệnh viện Quân đội 108… Và còn “chức” cũng “đặc biệt”: Chị là phu nhân của Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980) nguyên Phó Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam…
Cuộc đời gần một thế kỷ của Chi còn rất nhiều sự tích hiếm có, đã được nói đến nhiều, nhưng nhắc lại vào thời điểm này hẳn cũng có ý nghĩa. Nếu không ngại mang tiếng “đại ngôn”, tôi có thể nói, Chị là một bông hoa đẹp – nhỏ và khiêm tốn thôi, nhưng đã góp phần tôn thêm nét đặc sắc của vườn hoa Di sản vùng đất Cố đô vừa được Quốc hội ra Nghị quyết chuyển lên Thành phố trực thuộc Trung ương. Bông hoa nhỏ và khiêm tốn này cũng góp phần làm đẹp thêm truyền thống Bộ đội cụ Hồ mà cả nước đang sôi nổi các hoạt động kỷ niệm 80 năm thành lập…
Đại tá Cao Văn Khánh và Ngọc Trai chụp năm 1955
Tôi gọi chuyến “ra đi” cuối đời của Chị là cuộc “hành quân”, vì trước khi viết những dòng này, tôi đi qua ga Huế và chợt nhớ đến cuộc “hành quân” đầu tiên độc đáo của cô tiểu thư Ngọc Toản và mấy bạn nữ sinh Đồng Khánh ngay sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945. Từ ngày đó, cũng gần 80 năm qua! Đó là lúc mặt trận Nha Trang-Khánh HÒa đang diễn ra ác liệt, sau khi hai anh trai xung phong Nam tiến, Ngọc Toản nằng nặc xin mẹ cho đi bộ đội tuy chỉ mới 15 tuổi. Ngọc Toản được phân vào Ban Quân y, đóng quân ở đồn Phan Đình Phùng gần cửa Thượng Tứ; hàng ngày cùng chị bạn Lệ Tùng, được giao đến “Nhà thương Huế” (Bệnh viện Trung ương Huế hiện nay) để nhận thuốc men, “chỉ mong đến cuối ngày xin ra phố ăn chè đậu xanh, bánh rán. Ngán nhất đụng phải ông trưởng đồn nghiêm khắc…” Ông “trưởng đồn” đó chính là Cao Văn Khánh! Thế rồi một hôm, Toàn và hai bạn “lẻn ra sân ga Huế xem đưa tiễn các phân đội lên tàu “Nam tiến…” Rồi 3 cô liều lên tàu, vào mặt trận tính sau; nhưng đến ga Quảng Ngãi, gặp anh bộ đội quen, nghe anh dọa “Cứ đi dò hỏi đơn vị thế này , có thể bị bắt, bị nghi là gián điệp, có thể bị chém bằng mã tấu đấy!” Nghe sợ, các cô tiu nghỉu quay về Huế”…
Sau đó, Huế “vỡ mặt trận”, chiến tranh lan rộng, gia đình muốn Ngọc Toản yên phận theo đuổi học hành, nhưng ở Huế vừa học vừa tham gia hoạt động bí mật một thời gian, bị bắt ba lần, mẹ phải nhờ bà Từ Cung can thiệp mới được thả, nhưng bị trục xuất khỏi Huế. Gia đình gửi vào Sài Gòn ở nhà một người quen, tưởng cho học Trường “Đầm” Couvant des oiseaux khỏi bị ai “lôi kéo” hoạt động, nhưng Toản lại “móc nối” ngay với cô bạn thân Bình Thanh trong tổ chức học sinh tranh đấu…Mẹ sợ cô bị bắt liên lụy người thân, phải cầu cứu ông Vũ Xuân Chiêm (1923-2012) ở Thành ủy Huế (về sau ông là Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng…) –ông Chiêm đã giúp đưa cô ra Huế rồi gửi ra vùng tự do Khu 4 học Trường Huỳnh Thúc Kháng, qua đường giao liên vượt U Bò, Ba Rền vô cùng gian khổ…
Có thể nói đây là cuộc “hành quân” thứ hai đấy gian khổ và hiểm nguy trong đời cô tiểu thư con một quan Thượng thư. Một gia đình đại phong kiến, sau 1945, tất cả một lòng đi theo Cách mạng, thì quả đây là nét đẹp đặc sắc của Huế. Đến năm 1952-1953, Ngọc Toản thực hiện cuộc “hành quân” thứ ba khi theo gia đình anh rể là giáo sư Đặng Văn Ngữ (1910-1967) ra chiến khu Việt Bắc. Chỉ một thời gian ngắn, Ngọc Toản đã có trình độ tú tài và thi vào khóa I Đại học Y vừa mở tại Chiêm Hóa. Những năm 1952-1953, đây là một trung tâm tập trung rất nhiều trí thức hàng đầu Việt Nam theo chính phủ cụ Hồ – trong đó, nhiều người đã “hăng hái” làm mối Ngọc Toản với Cao Văn Khánh…Cho đến lúc chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ, nghe tin Ngọc Toản “đang học trong lớp Y khoa của giáo sư Tôn Thất Tùng, Cao Văn Khánh tức tốc lên xe, đạp tới Ngòi Quảng thuộc huyện Chiêm Hóa nơi có Trường Y…” Thế là giáo sư Tôn Thất Tùng hăng hái nhận làm “ông mối”…
Chuyện tình “cặp đôi” này còn lắm “rắc rối”, phải một cuốn sách mới kể hết nhưng hồi kết hiếm có không chỉ là hạnh phúc của riêng hai người con xứ Huế mà còn được truyền thông thế giới xem là một biểu tượng đẹp đẽ của của một đội quân, một dân tộc yêu chuộng hòa bình, biết chăm lo hạnh phúc cho mỗi con người. Cũng có thể gọi “Hồi hết” này là cuộc “hành quân” thứ 4 của Ngọc Toản 70 năm trước, khi chiến dịch Điên Biên Phủ toàn thắng, cô sinh viên y khoa đang phục vụ cứu chữa thương binh tại hậu tuyến chiến dịch – Đội điều trị 2 ở Bản Tấu, thì được lệnh phải theo liên lạc đi suốt đêm để ngày 18/5 có mặt tại hầm De Castries – lúc này là trụ sở chỉ huy lực lượng thu dọn chiến trường do Cao Văn Khánh phụ trách.
Ngay sau khi được gặp lại người yêu, “ông Trần Lương đã đến giao “nhiệm vụ”: Trong đám tù bình, duy nhất có một nữ là điều tiếp viên hàng không, cô Geneviève de Galarrd. Ngọc Toản biết tiếng Pháp nên gặp, cho cô ta biết Hội Phụ nữ Việt Nam đã đề nghị Bác Hồ ân xá cho cô và khuyên cô ta viết thư cảm ơn nhân dịp sinh nhật Bác. Toản gặp Geneviève truyền đạt thông điệp, nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ…” “Nhiệm vụ” thứ hai là tổ chức đám cưới với Cao Văn Khánh; thoạt đầu, Ngọc Toản “chống lệnh” vì người Huế muốn cưới hỏi phải theo lễ nghi đàng hoàng, nhưng rồi lễ cưới “độc nhất vô nhị” đã diễn ra như nhiều sách báo đã viết. Đám cưới được tổ chức ngày 22/5/1954 ngay tại hầm De Castries; “chiến trường không có hoa nên bộ đội trang trí hầm bằng các dù Pháp đủ màu… Kẹo nuga, thuốc lá Phillip, rượu Tây do máy bay Pháp thả xuống mừng De Castries lên tướng, giờ là chiến lợi phẩm khách khứa đem tới chung vui… Chú rể hát bài “Bộ đội về làng”, cô dâu hát bài “Em bé Mường La”… Đám cưới chỉ ngập tràn những nụ cười tươi như hoa…”
“Cặp đôi” này đã đi tiếp suốt cuộc kháng chiến lần thứ hai. Tướng Cao Văn Khánh tiếp tục là một trong những vị chỉ huy các chiến dịch ác liệt tại Quảng Trị từ cuối 1967 đến đầu năm 1973… Thật không may là ông bị nhiễm chất độc da cam và đã qua đời năm 1980. Một cú sốc tưởng có thể làm Ngọc Toản suy sụp, nhưng với tính cách cứng cỏi và bản lĩnh “bộ đội cụ Hồ”, sau thời gian công tác tại Viện Quân y 108, chị Toản đã dành nhiều tâm huyết cho cuộc đấu tranh đòi quyền được bồi thường cho nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam… Và điều không ai ngờ là ở tuổi 95, từ TP. Hồ Chí Minh, Chị có thể bay ra Hà Nội rồi lên Điện Biên Phủ, vẫn tươi tỉnh nói năng lưu loát với phóng viên, vui mừng trước những đổi thay của vùng đất từng là chiến trường ác liệt 70 năm trước… Sau cuộc “hành quân” thứ 5 đặc biệt này chỉ hơn 8 tháng, ngày 6/12/2024, người phụ nữ đặc biệt này lại từ TPHCM “bay lên trời” ra Hà Nội, nhưng đây là cuộc ”hành quân” cuối cùng của Tôn Nữ Ngọc Toản để tới Công viên tưởng niệm Thiên Dức Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, nơi có điều kiện dễ dàng “bay” tới nghĩa trang mà Tướng Cao Văn Khánh đã chọn làm nơi yên nghỉ của mình bên cạnh các chiến sĩ đồng đội từ 44 năm trước!
PGS. Cao Bảo Vân, trưởng nữ của chị Ngọc Toản (người thực hiện cuốn hồi ức “Tướng Cao Văn Khánh” mà tôi đã trích dẫn vài đoạn ở trên) trong thư riêng gửi cho tôi, ngày 9.12, sau khi thông tin về lễ tang của thân mẫu được tổ chức ngày 11.12 tại Nhà Tang lễ quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội đã viết:
“…Không có điều kiện đưa mẹ qua thăm quê hương lần cuối, nhưng Huế luôn trong tim mẹ con hàng ngày tới phút cuối cuộc đời ạ…”
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.