TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
ĐÒ LÈN - NỖI DAY DỨT TIẾC THƯƠNG NGƯỜI BÀ ĐÃ KHUẤT
ĐÒ LÈN - NỖI DAY DỨT TIẾC THƯƠNG NGƯỜI BÀ ĐÃ KHUẤT
Nguyễn Diên Xướng
Trong đời sống văn học trước cách mạng tháng Tám - năm 1945 yếu tố tự truyện đã xuất hiện. Loại tự truyện vừa có ấn tượng lâu bền, vừa nhuốm màu cổ tích là tự truyện gắn liền với ký ức tuổi thơ. Dù tuổi thơ êm đềm hay bất hạnh, con người ta vẫn luôn nhớ mãi những gì được xem là ấn tượng thuở ban đầu. Trong thế giới tuổi thơ ấy, cuộc đời và tình cảm của những người bà, người mẹ thường có sức ám ảnh lớn đối với cháu, con. Người làm thơ, viết văn cũng không ngoại lệ. Bài thơ ĐÒ LÈN của Nguyễn Duy (chương trình văn học nâng cao lớp 12, tập 1, NXB Giáo dục, năm 2007,trang 126 - 127) là một trường hợp như vậy.
Đò Lèn là một địa danh thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá - quê ngoại Nguyễn Duy. Nơi đây, Nguyễn Duy sống và đi học suốt thời thơ ấu. Cùng với Đò Lèn, nhiều địa danh khác của huyện Hà Trung, thị xã Bỉm Sơn và vùng giáp ranh của tỉnh Ninh Bình cũng được nhắc đến. Nhưng không gian địa lý muốn mang ý nghĩa cuộc đời thường phải là bến neo của tình nguời trong lịch sử. Điều này tìm thấy phong phú trong những khổ thơ đầu bài thơ.
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần.
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.
Bằng tự sự chọn lọc, kiểu câu thơ trữ tình điệu nói, thông qua hồi cố, Nguyễn Duy quay chậm những thước phim ấu thơ vừa quen, vừa lạ nơi quê ngoại của mình. Đó là câu cá ở cống Na, níu váy Bà đi chợ Bình Lâm, bắt chim sẻ, hái trộm nhãn chùa Trần, chơi đền cây Thị, xem lễ đền Sòng. Từng câu chuyện ngắn, dài ấy, có thể có chuyện chỉ một lần qua không trở lại, có chuyện lại dao động tuần hoàn. Điều ấy bình thường, hồn nhiên, nhưng lại hiện lên nét bạo dạn vô thức. Nói thế, vì một cậu bé thơ dại mà dám chạm vào các điều thiêng của một làng quê giàu văn hoá : bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật, hái trộm nhãn chùa, vui chơi ở nơi thờ phụng!. Tuy tự nhiên, hồn nhiên, bạo dạn vô thức, nhưng cậu bé ấy cảm nhận được cái văn hoá tín ngưỡng vừa tỏ, vừa mờ: “chân đất đi xem lễ đền Sòng/ Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm / Điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”. Dĩ nhiên, Nguyễn Duy bất khả tri trước cảnh tượng tối – sáng lẫn vào nhau, không khí mang cả khói lẫn hương, không gian lung linh, huyền ảo. Nhưng, sự tương hợp của mùi hương thơm, màu huệ trắng và điệu hát văn… đã làm nên một phần cổ tích trong thơ Nguyễn Duy. Nếu cổ tích bao giờ cũng đẹp và con người rất khó quên thì về sau, khi nhận thức đã phát triển, nó vẫn còn sức ám gợi.
Sống mải mê giữa tuổi thơ giàu kỉ niệm pha lẫn màu cổ tích huyền ảo ấy, làm sao Nguyễn Duy có thể hiểu hết cuộc đời của người Bà thân yêu ? Chỉ khi đã lớn lên với bao chiêm nghiệm của chính mình, Nguyễn Duy mới hiểu sâu sắc về Bà bằng nỗi ngậm ngùi, xót xa, day dứt :
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
Người phụ nữ xứ Thanh xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Duy (người bà, người mẹ, người vợ). Phần lay động nhất của các nhân vật này vẫn là vẻ đẹp truyền thống: lặng lẽ chịu thương khó, hết lòng vì người thân yêu. Chỉ qua sự cô đọng của thành ngữ mò cua xúc tép, ta thấy ngay cái vất vả của Bà trong đời sống thường nhật. Không chỉ thế, mỗi câu thơ, câu nào cũng chứa hình ảnh cuộc đời Bà muôn phần cơ cực, mà chỉ một mình Bà biết, một mình Bà hay. Giữa cái mông quạnh của đất trời đêm đen, rét mướt ấy, người Bà hiện lên với vô vàn nỗi nhọc nhằn cơ cực. Câu thơ cuối khổ thơ chưng cất khá trọn vẹn một đoạn đời cơ cực nhất của Bà. Trong thi pháp từ, từ thập thững cho phép mở ra một trường nghĩa, mà cảm nhận ở phía nào cũng làm ta nhức buốt tiếc thương Bà.Thập thững là hiện tượng tồn sinh không vững vàng, chắc chắn. Cách láy phụ âm đầu (th) cùng chiều hướng ngữ âm của dấu nặng (.), dấu ngã (~)còn là nhịp điệu lên xuống của bước đi dò đường. Không phải là bước đi thậm thịch,mà là bước đi thập thững. Bước đi ấy của Bà, có khi chạm vào mặt đất, có khi như hụt hơi, không điểm tựa. Và, cũng có khi chỉ vừa chạm vào mặt đất, đã hốt hoảng giật nảy lên. Vì sao vậy, vì đường quê lổ chỗ, nơi cạn, nơi sâu và còn vì gánh nặng trên vai đang chênh chao phải liên hồi xoay trở. Đã thế, lại đường xa, giá lạnh, tối trời !.Những người thân yêu của Bà được sống ấm êm, được trưởng thành, trong đó, có đứa cháu ngoại thành thực tận cùng ...đều lớn lên từ những bước chân thập thững ngày xưa ấy.
Cũng nhớ và nghĩ về ngày xưa ấy, Nguyễn Duy còn thấy mình:
Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực
giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
Vật trong suốt là vật có thể nhìn thấy triệt để. Nguyễn Duy “ trong suốt” kỳ thực là rất đỗi vô tư, rất đỗi hồn nhiên, không vướng bận vào điều gì và cũng không có nhu cầu phân tích. Đây là đặc điểm của tư duy chưa phát triển của tuổi thơ, đồng thời là nét tâm lý phổ quát của trẻ con. Sống thì vui chơi vậy thôi. Sống có Bà yêu thương, chìu chuộng là sung sướng rồi. Những gì cao xa, bí ẩn, làm sao hiểu cho hết được ?. Do vậy, những gì là thực, là hư không cần tư vấn. Ngay cả bản thân Duy,người Bà là “thực” đấy; còn tiên, Phật, thánh, thần là “hư” đấy, mà cũng không có ý niệm phân biệt gì. Chỉ vui sống với cuộc đời, quên nghèo khổ, thế là đủ rồi :
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm
Hoá ra lại là cổ tích nữa!. Ở đây, cổ tích khiến con người quên đi hiện tại để sống lại cùng ký vãng với những thơm tho, sáng loáng ngày nào. Nhưng nghiệm lại câu thơ, ta nhận ra cái đói nghèo vẫn đeo bám đời bà và tuổi thơ tác giả. Năm thanh trắc trên bảy thanh, câu thơ không giúp đọc dễ dàng. Thì ra nó đồng hiện cùng những bữa ăn toàn khoai củ của Bà – cháu!. Ngược lại câu thơ tiếp theo có năm thanh bằng rất êm tai. Đấy là gì, nếu không phải là cái trục trặc, khó khăn chồng lên cái dễ dàng thanh thoát (?). Đây chính là trạng thái pha lẫn cổtích với hiện tại, một sự pha lẫn miên man khiến cậu bé Duy, trong đói nghèo, vẫn cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm.
Rồi thời gian trôi qua, tuổi thơ dồn vào ký ức, giặc giã lan tràn quê ngoại, Nguyễn Duy cầm súng lên đường. Cái làng quê giàu văn hoá, văn vật ấy đã bị cái văn minh công nghiệp tư bản phương Tây làm tàn hoang.
Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn!
Bom Mỹ dội, làm nhà bà ngoại, đền Sòng, chùa chiền “bay tuốt cả”. Rồi “thánh với Phật” cũng “rủ nhau đi đâu hết”. Chỉ còn một sức mạnh văn hoá vẫn điềm nhiên, đó là người Bà : bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn. Trong khi ba câu thơ ở trên đều nói cái biến động chiến tranh dẫn đến sự mất hút các giá trị lịch sử - văn hoá thì câu thơ cuối khổ này lại hiện ra một sự tồn tại. Không chỉ tồn tại, mà có cả sự sống. Một sự sống làm se thắt lòng ta : trên quê hương hoang tàn đổ nát ấy, bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn là một sự sống đơn độc như đang được xây dựng lại từng ngày!. Vậy là ngày xưa, trong cái mông quạnh của đêm đen, đường xa, giá lạnh, chỉ mỗi Bà bước thấp bước cao để chống cái đói nghèo mà sống. Còn giờ đây, nỗi thương khó ấy, với một số phận riêng đang được tiếp nối từng ngày. Người Bà trong bài thơ BẾP LỬA của Bằng Việt vẫn kiên lòng nhuốm lên ngọn lửa tâm tình giữa giông bão chiến tranh để đợi ngày gia đình sum họp. Còn người Bà của Nguyễn Duy lại điềm nhiên trong chênh vênh sự sống. Người Bà ấy, như bức tranh thơ, đã cơ cực những năm tuổi thơ của Duy, lại bất an khi Duy trưởng thành. Sự trưởng thành đó, do vậy, chứa biết bao nhiêu đau xót trong lòng Duy!. Ta có thể hình dung một phương trình :
ĐÒ LÈN = Bà ngoại = Nỗi day dứt tiếc thương của Nguyễn Duy.
Có thể là như vậy. Mà như vậy, lòng thành thực tỉnh táo trong khổ thơ cuối cùng vẫn cứ dào lên nỗi đắng chát khôn nguôi về những quy luật của cuộc đời mà không riêng một ai có thể cải hoá được :
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.