TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
LÊ ĐẠT - CHỮ
LÊ ĐẠT - CHỮ
Đỗ Lai Thúy
Tôi ghé như thiểu số phụ gia Vẩy chữ thăng hoa Thoáng cà cuống chưa đóng lọ Đừng tìm tôi chỗ những ghế ngồi Hộp thư đuôi chớp ngộ đầu ô Lê Đạt
1
Trọn đời trọ góc nhìn thiên hạ Cam tâm làm khách lạ bản thân (Từ tình - Trọ)
Một nhà thơ thức thời thường cam phận lỗi thời. Vấn đề là ở phía trước hay phía sau. (Từ tình - Đoản ngôn)
Nhà thơ thường có tật lẫn đường và lần ra những đường mới. (Từ tình - Đoản ngôn)
Nhà thơ Lê Đạt (1929-2008)
Cái ngày Nhân văn bị kết án, cũng là ngày khai tử Lê Đạt. Một Lê Đạt hăng hái hoạt động xã hội và hoạt động thơ. Hay đúng hơn, theo quan niệm của Maia, "người hùng một thuở" của nhóm, cách mạng xã hội và cách mạng thơ là một. Nhưng với Lê Đạt bấy giờ, hẳn cách mạng thơ cũng nhằm phục vụ cách mạng xã hội. Để thơ, theo lối nói của các nhà phê bình sang trọng bây giờ, "ngang tầm thời đại". Ngôn ngữ thơ, vì thế, chỉ là bàn tay nối dài của tư tưởng.
Không được tham gia vào "ngày hội của quần chúng", hoặc, lại theo lối nói thông tục của thị trường bây giờ, mất "sân chơi công cộng", Lê Đạt đành quay vào chơi với chính mình. Đúng hơn, thế giới nội tâm mình. Thơ hướng ngoại thành thơ hướng nội. Ngôn ngữ thơ quay về với chính bản thân nó. Chữ thành trung tâm chú ý của Lê Đạt.
2
Nhà thơ là người thiểu số vùng sâu vùng xa của ngôn ngữ, suốt đời chưa sõi tiếng phổ thông (Từ tình - Đoản ngôn)
Vườn chôm chôm mùa khem thèm thòm trái cấm Vui mồm lắp lẫn nhiều kinh kệ không quen Amen (Bóng chữ - Khuyết điểm)
Nếu trước đây, nhà thơ lấy nghĩa ứng trước làm hệ quy chiếu để chọn chữ đặt câu, thì nay Lê Đạt lấy chữ làm trung tâm phát nghĩa. Bởi thế, cái nghĩa hậu sinh này không phải là nghĩa tiềm/tiền sinh tự điển, nghĩa tiêu dùng, mà nghĩa được phát sinh bởi các mối liên hệ của chữ ấy với các chữ khác trong câu. Như vậy, đó là một nghĩa khác, nghĩa do thi nhân khai nguyên. Một sáng - tạo - chữ của riêng Lê Đạt.
Sự đổi ngôi chữ - nghĩa này, có thể nói, là một cách mạng ngôn ngữ thơ thật sự. Bởi, đây là thay đổi hệ hình (paradigme). Từ đống tro tàn, một con phượng hoàng khác khai sinh; Lê - Đạt - chữ. Tuổi thơ Lê Đạt phải được tính từ đây.
Thuở ấy tôi rất già Mở miệng khuôn tổ tiên rập nói Tôi bán khoán cửa chùa Quán Ngữ Lời chuộc tuổi mình Nói thật khai sinh (Bóng chữ - Chuộc tuổi)
3
Các triết gia cảnh báo nhiều về nguy cơ tha hóa mà hơi ít về nguy cơ đồng hóa, nó cũng là một hình thức tha hóa (Từ tình - Đoản ngôn)
Người ta có một cái đầu để làm khác chứ không phải làm theo. Bất hạnh là người có cái đầu máy photocopy. (Từ tình - Đoản ngôn)
Cách mạng hệ hình ngôn ngữ thơ như vậy, hẳn không chỉ có Lê Đạt, mà còn cả Trần Dần, một cặp đôi với ông thời Nhân văn. Biết đâu, Dần, với một tính cách thủ lĩnh, chả là người khởi xướng. Nhưng thôi, ai trước ai sau, ai chủ ai tùy, thì giờ đây, khi họ đã bắt kịp nhau ở cõi bất tử, đã, ít nhất với họ, không còn quan trọng nữa. Điều đáng nói hơn là, sau khi thức nhận được tính thứ nhất của chữ so với nghĩa, thì Dần Đạt ai đi đường nấy. Tức con đường khai phá chữ của Lê Đạt khác Trần Dần(1). Một can - đảm - chữ, như lời Lê Đạt phong tặng Hoàng Cầm(2).
Hơn nữa, khác còn là quy luật sáng - tạo - thơ, ngành chuyên sản xuất những độc bản. Khác, còn hợp với một Lê - Đạt - người, kẻ thích khác, nhất là lập ngôn khác, người căm thù những bản sao, kể cả những bản lỡ tự sao. Trong một xã hội cộng đồng với những con chữ bầy đàn hoặc một xã hội toàn trị với những vườn ươm câu, những trại trồng chữ mà một người - chữ cứ ngoan cố chỉ là mình thì thật bất tiện. Nhưng chân lý lời, khi đang còn vắng tiếng vỗ tay thì là chân lý, còn khi cả đám đông thi đua vỗ tay thì chắc gì đã còn là chân lý nữa.
4
Nhà thơ Đặng Đình Hưng có biệt tài đặt ra những thắc mắc xóc óc. Hôm đó đương ăn cháo lòng chịu ở phố Huế, Hưng đột nhiên hỏi tôi: - Tại sao đọc thơ mình cậu khen hay mà đọc Trần Dần cậu chỉ khen được. - Vì mình đòi hỏi Trần Dần nhiều hơn cậu. (Từ tình - Đoản ngôn)
Trong một bài thơ cổ điển, nghĩa thường đến đúng hẹn. Trong một bài thơ hiện đại nghĩa thường đến trễ giờ. (Từ tình - Đoản ngôn)
Trần Dần, với chất lửa bẩm sinh, đi hết mình về phía hiện đại. Thi nhân chú trọng cả âm lẫn chữ, tức mặt âm thanh và mặt thị giác của chữ. Về âm thanh, nhà thơ sử dụng mọi thủ pháp biến tấu âm, từ âm chữ đến âm vần, từ con âm có nghĩa đến con âm không nghĩa. Thơ Trần Dần, nhiều lúc, đi đến hạn độ tột cùng của sự biến tấu âm: thuyết âm chữ (lettrisme). Thơ như một bản nhạc chỉ cần âm điệu chứ không cần ngữ nghĩa. Về mặt chữ, Trần Dần cũng thử nghiệm mọi chiêu thức biến tấu chữ, từ chữ in, chữ thường, chữ đậm, chữ nhạt đến việc thay thế một vài chữ cái bằng những ký tự của riêng ông, nhằm lạ hóa mặt chữ. Kể cả việc sắp đặt các con chữ như một bức họa, hoặc phối chữ xen lời để trở thành thơ Lời và không lời. Một kiểu thơ cụ thể được bắt đầu từ thơ đồ hình (calligrammes) của Apollinaire đầu thế kỷ XX đến thơ - họa trên văn học mạng gần đây.
Việc lấn biên về cả hai phía nhạc và họa của Trần Dần đã mở rộng trường phát nghĩa của thơ. Tuy nhiên, những cách tân tiền phong chủ nghĩa này đôi khi cũng dẫn thơ đến những vùng mù nghĩa, thậm chí không nghĩa. Nhưng trong thơ, không nghĩa (chứ không phải vô nghĩa) cũng là có nghĩa. Đó là nghĩa không (zero), một thứ nghĩa góp phần tạo nghĩa. Hơn thế, Trần Dần còn phát huy biến tấu âm, biến tấu chữ ở cả cấp độ thể loại, nhằm tạo thành bè, hoặc bè đệm cho những thơ - văn xuôi, thơ - kịch, thơ - tiểu thuyết phức điệu của ông.
5
Cho rằng ngôn ngữ có thể hoàn toàn giải mã được là loại trừ nghĩa (sens) hoặc rút gọn nó thành những định nghĩa (signification). Định nghĩa minh bạch và hữu hạn Nghĩa mơ hồ và bất tận. Nghĩa có những khoảng trắng không thể lấp đầy dành cho cơ may. (Từ tình - Đoản ngôn)
Chia xa rồi anh mới thấy em Như một thời thơ thiếu nhỏ Em về trắng đầy cong khung nhớ Mưa mấy mùa mây mấy độ thu Vườn thức một mùi hoa đi vắng Em vẫn đây mà em ở đâu Chiều Âu Lâu bóng chữ động chân cầu. (Bóng chữ - Bóng chữ)
Ứng xử chữ của Lê Đạt dường như đi về phía hậu hiện đại. Không dừng ở việc tìm nghĩa khác cho chữ, thi nhân còn muốn mỗi con chữ phải cùng lúc phát nhiều nghĩa. Điều này trái với quy luật chung của giao tiếp ngôn ngữ. Bởi, nếu một chữ cùng lúc phát nhiều nghĩa thì câu sẽ thành một hỗn độn, khả năng giao tiếp sẽ tụt áp xuống âm. Để lập lại trật tự, các mối liên hệ cú pháp quy định cho mỗi chữ (hoặc từ) chỉ được phép có một nghĩa. Câu văn, nhờ thế, trở nên sáng sủa, trong sáng, dễ thu nhận thông tin. Nhưng nghệ thuật, ngoài thông tin giao tiếp còn có thông tin thẩm mỹ. Nếu thơ chỉ là công cụ của tư tưởng thì ngôn ngữ thơ càng trong suốt càng tốt. Nhưng trong như nước cất thì không có con cá thẩm mỹ nào sống được. Phải là nước tự nhiên, có trong có đục. Mờ đục chính là bản chất của ngôn ngữ nghệ thuật. Thơ không chỉ có một khuôn mặt, nhất là mặt dẹt ở những áp phích quảng cáo tuyên truyền, mà thường là "hai mặt", hay bốn mặt như nàng Bayon, thậm chí vô số mặt.
Cấp cho mỗi con chữ một bóng chữ, rồi bóng lại lồng bóng như trong một nhà kính vạn gương, khiến chữ trở thành đa nghĩa, là con đường hoàng đạo đưa thơ về với bản chất của nó. Và, để làm được điều này, Lê Đạt đã phá vỡ các liên hệ cú pháp trong câu, khôi phục lại địa vị độc lập (tương đối) của chữ. Điều này cũng có nghĩa là thi nhân phục hưng lại những giá trị uyên nguyên của từ Việt và cú pháp Việt, ít nhất đối với thơ, đã bị lấm láp trên đường hiện đại hóa do thói dĩ Âu vi trung.
6
Tôi trọng những nhà thơ sinh sự với văn phạm để tạo ra sự sinh của ngôn ngữ. (Từ tình - Đoản ngôn)
Viết là phép đối xử với văn phạm như một bạn chơi, chứ không phải như một nhân viên trật tự thô lỗ. (Từ tình - Đoản ngôn)
Tiếng Việt, cũng như tiếng Hán, vốn là tiếng đơn lập. Hầu hết các từ đều là tiếng (chữ), là hình vị, có thanh điệu, lại không biến đổi hình thái, nên, một mặt có khả năng độc lập rất lớn trong câu, mặt khác đẻ ra một kho đồng nghĩa, nghịch nghĩa rất thuận cho trò chơi chữ. Câu tiếng Việt lại theo mô hình cấu trúc đề + thuyết (3), nên dễ dàng cho phép tỉnh lược một vài bộ phận câu. Ngôn ngữ thơ trung đại Việt Nam, ở những đại thụ của nó, đã cắm rễ cái vào được vùng màu mỡ này của đất đai Việt ngữ, để làm nên những mùa quả.
Từ đầu thế kỷ XX, do nhu cầu phải diễn đạt tư tưởng, nhất là những tư tưởng mới tiếp thu được từ bên ngoài, một cách khúc chiết và lôgic, tiếng Việt vừa hối hả thu nhận những từ mới, khái niệm mới, vừa vội vàng mô phỏng cấu trúc ngữ pháp chủ + vị của tiếng Tây. Lợi thế này trước hết cho ngôn ngữ luận thuyết và khoa học, nhưng chưa chắc đã thuận cho ngôn ngữ văn học, kể cả văn xuôi nghệ thuật. Nhưng đất nước đang trong xu thế hiện đại hóa, mà lúc này là đồng nghĩa với phương Tây hóa, Pháp hóa, thì bản thân tiếng Việt cũng khó cưỡng nổi.
Đầu những năm 30, khi thơ Việt Nam làm cuộc cách mạng lần thứ nhất của mình, cuộc cách mạng Thơ mới, thì trước hết nó đưa chất văn xuôi vào thơ, mà chủ yếu ở phương diện cú pháp. Lần đầu tiên thơ Việt có sự phân biệt rành rọt câu thơ (dòng thơ) với câu ngữ pháp. Câu ngữ pháp có thể bằng hoặc nhỏ hơn câu thơ, nhưng thường là lớn hơn câu thơ. Thơ mới, bởi thế, có rất nhiều câu vắt dòng. Thậm chí, một câu bao gồm rất nhiều dòng thơ. Đặc biệt, thơ người mở đường Thế Lữ có nhiều từ nối, từ suy lý như song le, vả chăng..., khiến cú pháp trở nên chặt chẽ như văn xuôi. Mô hình câu chủ + vị của ngôn ngữ ấn Âu sớm trở thành khuôn mẫu cho tư duy văn học Việt Nam, thậm chí cản trở cả sự thông hiểu ngôn ngữ thơ ca cha ông. Thật nực cười khi để hiểu thơ Kiều, người ta cứ nhất quyết đi tìm chủ ngữ, điều đã bị nhà thơ Đoàn Phú Tứ kịch liệt phê phán(4).
Nếu nói thơ chính lộ hiện nay là sự kéo dài của Thơ Mới (thực chất chỉ là phần lãng mạn của Thơ mới) thì đúng trước hết với sự thống trị của cú pháp Thơ mới theo mô hình chủ + vị. Bởi vậy, tiếp tục tinh thần cách mạng của Thơ mới thì phải làm một cuộc cách mạng khác, mà đầu tiên là phải "cách" cái "mạng" Thơ mới đã. Tức tìm một mỹ học khác thay thế tính liên tục của mỹ học Thơ mới. Trần Dần nói "chôn tiền chiến" là "chôn" theo nghĩa này. Còn Lê Đạt thì lặng lẽ làm công việc thổ mộc của người phu chữ: sinh sự với văn phạm chữ để con chữ sự sinh.
7
Cả hai nhà thơ X và Y cùng thích chữ. X thích chữ như một nhà sưu tầm báu vật. Ở X, nhiều chữ quý tự thân. Y thích chữ như một nghệ sĩ sắp đặt. Ở Y thường là những chữ đắc địa. Thiên hạ mệnh danh Y là "Tả Ao chữ". (Từ tình- Đoản ngôn)
Trăng Ba Vì sao đổi chữ thiên di (Ngó lời - Thiên di)
Người đẹp lẩn khe hai dòng chữ tối Thủ thư mù lần lẻ một lối mê (Ngó lời - Borges)
Cú pháp Thơ mới lãng mạn đề cao tính liên tục, tức coi trọng mối liên hệ giữa từ với từ, đồng thời thúc ép người đọc đọc từ chữ đầu đến chữ cuối trong câu, từ câu đầu đến cấu cuối trong bài, tức trừu tượng hóa sự đọc. Đây là quá trình văn xuôi hóa thơ. Trong khi đó, thơ chú trọng đến quan hệ trực quan giữa từ với sự vật. Thơ triển lãm sự vật trước mọi người bằng sự khôi phục nghĩa nguyên thủy của từ, tức "phục sinh từ", hoặc "lạ hóa" từ - như cách nói của Sklovski. Đồng thời, để hãm lại sự đọc nhanh, hay "đọc tự động", thơ chủ trương đọc thong thả, "tha thẩn chữ", qua những hình tượng cụ thể trực quan. Đây là sự đứt đoạn. Sự chống lại cú pháp để tạo ra thơ.
Roman Jakobson, nhà lý thuyết thơ, có nói: Thơ là sự phóng chiếu trục lựa chọn lên trục kết hợp. Tức chặt đứt tính liên tục cú pháp bằng những đồng đẳng (cả tương đồng lẫn đối lập). Lê Đạt đã kỳ khu tạo ra đồng đẳng trong thơ ông trên mọi cấp độ thơ. Cấp độ chữ, cấp độ câu, và cấp độ nghĩa. Từ đó, tạo ra thi pháp chữ, thi pháp câu, thi pháp nghĩa và, cuối cùng, bút pháp (écriture) Lê Đạt.
Cũng như các bậc thầy chữ trong làng thơ Việt Nam, như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà..., Lê Đạt rất quý chữ, thích chữ. Ông, cũng như họ, tận dụng được sự phì nhiêu chữ Việt, như giàu có thanh điệu, giàu đồng nghĩa nghịch nghĩa, giàu tượng hình tượng thanh. Với 72 phép chữ. Nhưng khác họ, Lê Đạt không sưu tầm chữ tự thân, chữ đặc (đối lập với chữ nước), nhãn tự, thần tự, mà chú trọng hơn đến cách sử dụng chữ, tìm "mả" (chỗ "đắc địa") cho chữ. Bởi thế, với Lê Đạt, bất kỳ một "mảnh chĩnh" ngoài bờ tre nào cũng có thể trở thành "chuông, khánh".
Rất nhiều con chữ Lê Đạt tối giản lại chỉ còn là những nguyên âm, có nghĩa hoặc không nghĩa, nhưng đưa con người trở lại thuở khai sinh, đưa vạn vật trở lại thuở khai thiên lập địa, tạo ra một sáng thế chữ, hay một "hồi quy vĩnh cửu" như Nietzsche nói. Chữ o với những thanh điệu của nó ("Tù và ai ọ nghé đồng tranh", "Đèn mơ ngơ/xuân ớ/ngã tư ờ"), chữ e ("Chỉ bóng anh/ò e/xe Văn Điển"), chữ u ("Ngõ trắng bời bời mây nổi/ U ú thiên hà/tàu nhả khói ngã ba", "Tim ù ù/gió ú/Một nguyên âm")... Nguyên âm là tiếng đầu tiên khi homo sapiens chuyển từ ngôn ngữ không phân tiết của loài chim sang ngôn ngữ phân tiết của loài người. Sự ú ớ thơ ngây mà mang bao nhiêu kinh nghiệm tiền sử. Nguyên âm u (là mẹ, là đất, là đất mẹ) chẳng hạn, như tiếng gọi trở về cội nguồn nguyên thủy, cội nguồn vô thức.
Lê Đạt cũng thích chơi chữ, thậm chí chơi chữ Tây, bằng từ tượng thanh:
Nắng tạnh heo mày hoa lạnh Mimôza chiều khép cánh mi môi xa (Bóng chữ - Mimôza)
Một từ mimôza được cắt thành 3 chữ mi môi xa đã tài, nhưng tài hơn là được đặt văn cảnh phù hợp. Tạnh nắng, gió heo may, chiều trở lạnh, hoa mimôza khép cánh..., thiên nhiên tất cả đều gợi nhắc đến chia ly, xa cách của con người (heo mày, mi môi xa). Hoặc thần tình hơn là chơi chữ Ta:
Hay em biến trong gương một người giống em trở lại Má má môi mà mỗi mỗi xa (Bóng chữ - Gương)
Sự nhại âm má má môi/mỗi mỗi xa ở đây tạo ra một sự đối sánh gương cho một tình yêu đã vãn em/giống em, biến/trở lại. Đồng thời, tạo ra một chuỗi những đối lập giữa hình và bóng, gần và xa, còn và mất...
Bí mật thi pháp chữ Lê Đạt nằm ở chỗ, một mặt nhà thơ vẫn sử dụng các thủ pháp biến điệu chữ để tạo ra sự đứt đoạn, mặt khác duy trì áp lực tính liên tục của cú pháp lên con chữ bị biến điệu, khiến nó trở thành chữ sai/ chữ nhịu:
Cảm giác đầu tiên, những chữ sáng, ngần, xuân trong câu thơ thứ hai là những chữ sai. Không ai nói sáng ngần cả, mà chỉ nói trắng ngần. Hơn nữa đã áo trắng, mây trắng thì thân (thể) phố cũng phải trắng (ngần), nhất là khi khỏa thân (xuân). Như vậy, chữ xuân phải là thân thì mới hợp với chữ khỏa. Tuy nhiên, ngẫm kỹ thì sáng ngần và khỏa xuân là cách dùng từ mới mẻ và sáng tạo của nhà thơ. Khỏa xuân đã nhân cách hóa con phố, thiên nhiên hóa cái nhân tạo, đồng thời biến mây trời thành áo trắng của con người, nâng vẻ đẹp người ngang với thiên nhiên và hòa hợp với thiên nhiên.
Những chữ "sai cố ý" như vậy của Lê Đạt khiến đầu óc cú pháp và lương tri thông thường của chúng ta cứ tự nhiên "chữa lại" thơ ông cho "đúng". Hay ít nhất cũng dừng lại, tìm hiểu. Thế là đằng sau con chữ ông dùng lấp ló những con chữ khác của người đọc, hoặc chữ do ông gài sẵn vào đấy để người đọc "phát hiện". Những chữ đằng sau chữ đó tạo thành bóng chữ. Thơ Lê Đạt là một chuỗi những chữ của chữ, cái biểu đạt của cái biểu đạt.
Tuy nhiên, những con chữ của chữ đó không bao giờ trùng khít. Chúng tạo ra những khe hở: Người đẹp lẩn khe hai hàng chữ tối để phát nghĩa, nghĩa tiềm ẩn, vô thức:
Tóc bạc tầm xanh qua cầu với gió (Bóng chữ - Quan họ)
Ai cũng thuộc những câu ca dao về hoa tầm xuân, nụ tầm xuân, nên đọc đến câu thơ này thì chữ xanh trong tầm xanh là chữ nhịu, người đọc tức thời muốn cải chính lại là tầm xuân cho đúng tri thức văn hóa thông thường. Nhưng rồi thấy tầm xanh trong tương quan với tóc bạc cũng có nghĩa. Vậy là giữa khe chữ của xuân/xanh xuất hiện hai nghĩa: một người già (tóc bạc) đi nghe quan họ để tìm lại tuổi trẻ (tầm xanh) của mình, hoặc để tìm tình yêu (tầm xuân). Rồi xuân xanh lại hòa trộn vào nhau nên người tóc bạc đi tìm cả tình yêu lẫn tuổi trẻ, một tuổi trẻ ở người quan họ (Đùi bãi ngô non ngo ngó sông đầy) và một tuổi trẻ đã mất (nay đã lấy lại được) của mình. Sự nhịu lời, như vậy, biểu hiện một cách vô thức của sự nhịu tình.
8
Người ta thường đánh giá cái mới, cái chưa biết bằng những cái đã biết rồi. Đó là nguyên nhân sinh ra tình trạng oái oăm: thằng chết cãi thằng khiêng. (Từ tình- Đoản ngôn)
Người ta thường hiểu lầm rằng nghệ sĩ cách tân chủ trương xóa bỏ mọi gò bó. Không. Anh ta chỉ đòi xóa bỏ những gò bó lỗi thời và phi nhân tính để tự giác đề ra cho mình những gò bó tự do hơn. Không có gò bó thì cũng không có nghệ thuật. (Từ tình- Đoản ngôn)
Nếu thi pháp chữ chủ yếu dựa vào những đồng đẳng ngữ âm, thì thi pháp câu chủ yếu dựa vào những đồng đẳng ngữ pháp. Để tạo ra những đồng đẳng của các cụm từ trong câu, thi nhân sử dụng nhiều chiêu thức, kể cả vô chiêu. Nhưng với Lê Đạt, hai thủ pháp được ông dùng nhiều hơn cả, trở thành thi pháp là phép tỉnh lược và sự phá vỡ trật tự từ trong câu, biến ngôn ngữ ý niệm của văn thành ngôn ngữ ý tượng của thơ.
Nói vậy, thơ Lê Đạt không phải là không có ngôn ngữ ý niệm: Ngỡ trốn đùa đâu ngờ em trốn thật/ Rừng ngàn tìm lạc giọng hu ... ú tim (Ngó lời – Ú tim), Mắt nước con triều thu lên xuống/ Mà tàu mắc cạn vững tình trăng (Ngó lời - Vũng tàu). Những từ nối như ngỡ, đâu ngờ, mà... làm cho câu thơ trở thành một phát ngôn logic mang tính trình bày một tâm trạng hay hoàn cảnh. Kiểu phát ngôn này ít xuất hiện trong thơ Lê Đạt. Thường hơn, thi nhân lược bỏ hết các từ liên kết, khiến các cụm từ trong câu thơ thành độc lập.
Điện tắt thu tàn trăng cuối tháng Lời thầm hoa phát sáng thư hương (Ngó lời - Thư hương)
Câu thứ nhất, do thiếu các từ nối, rã ra thành 3 cụm từ độc lập và đồng đẳng: Điện tắt/ thu tàn/ trăng cuối tháng. Cả 3 tuy khác nhau về cấu trúc ngôn từ (N+V, N+Adj, N+ Adj (định ngữ), nhưng đều chỉ khoảnh thời gian ánh sáng thiếu hoặc yếu trong chu trình một ngày (cuối ngày, chập tối hay ban đêm, lúc cần thắp sáng), một tháng (cuối tháng, trăng cuối tháng), một mùa (cuối mùa, mùa cuối). Trong bối cảnh không nhìn thấy đó thì hoa muốn gửi lời thầm (tâm sự, lời yêu) chỉ còn có cách toả hương: Lời thầm hoa phát sáng thư hương. Thư hương là một bài thơ tình, nhưng cũng là lời nhắn gửi một nhân tình thế thái: con người phải phát sáng nhân phẩm của mình bằng mọi cách, nhất là vào những lúc tối trời.
Thơ Lê Đạt cũng thường tỉnh lược chủ ngữ. Trong Bóng chữ, nhiều bài thơ do gắn liền với hoàn cảnh cá nhân còn có nhân vật xưng anh làm chủ ngữ trong câu, như Anh đến mùa thu nhà em; Khi gió mùa anh đi/ Sang sông tìm nắng khác; Anh muốn làm bông hoa/ Đầu xuân cài cỏ mộ; Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ/ Nhà số lẻ phố trò chơi bỏ dở... Sang Ngó lời, nhất là ở những bài thơ hai kâu, thì anh ít xuất hiện, mà có xuất hiện thì cũng chỉ là một cái tôi nhân xưng phiếm chỉ. Còn thường là câu không có chủ ngữ. Đúng hơn, câu chỉ có phần thuyết (thông báo mới, cái chưa biết) chứ không có phần đề (cái đã biết, hoặc tiền giả định). Sự vật, sự việc, nhờ thế, như không cần ai nói hộ, nói đến, tức ở ngôi thứ ba, mà tự hiện diện, tự phô bày mình như ở ngôi thứ nhất.
Mi liễu mắt đừng sao sắc nữa E biếc đầu thu lỡ giết người (Ngó lời - Đầu thu)
Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải Bóng lá răm ngày Phả lại đắng cay (Ngó lời - Phả lại)
Máy nhắn chim tin tìm mê lộ phố Lòng khác tình tim đổi số lặng thinh (Ngó lời - Máy nhắn tin)
Ở những câu thơ trên, hoặc không có chủ ngữ, hoặc có rất nhiều từ, cụm từ có thể làm chủ ngữ được, tức một hình thức không chủ ngữ xác định. Nhờ vậy, câu thơ vừa trực quan, cụ thể, cá biệt, nhất thời (do sự vật, sự việc tự trình bày về nó), vừa khái quát, muôn thuở do tính phiếm định chủ ngữ của nó. Cái tôi Lê Đạt, một mặt cùng với hành trình thơ của ông, đi từ cái tôi đơn ngã sang cái tôi đa ngã, mặt khác từ cái tôi tiểu ngã sang cái tôi đại ngã theo con đường minh triết sống của thi nhân.
Thủ pháp tạo đồng đẳng khác của Lê Đạt là phá vỡ trật tự từ trong câu. Theo quan sát của nhà Việt ngữ học người Pháp tâm huyết và tài ba, Cha L.Cadière, người Việt có thói quen cái gì thấy trước, xảy ra trước thì nói trước, cái gì thấy sau, xảy ra sau thì nói sau(5). Từ đó, hình thành trật tự từ câu tiếng Việt một cách cố định. Trật tự từ tiếng Việt, bởi vậy, có tính cú pháp, là một yếu tố cú pháp. Lê Đạt giải phóng từ khỏi sự ràng buộc cú pháp, như xóa đi một bàn cờ đương dở cuộc. Các quân cờ chữ nằm lộn xộn trên mặt bàn cờ - câu thơ như chờ người đọc - người chơi sắp xếp lại. Và mỗi người có thể theo cách của mình.
Đưa anh lần những vùng quê tuổi dại Thuở trăng sim soi lại bãi tim khờ (Từ Tình - Tuổi dại)
Ngoài sự đổi ngôi chữ trong câu như bỏ nhỏ → trăng tim, bãi tim → bãi sim, lối ngỏ → lối nhỏ, bỏ nhỏ → bỏ ngỏ..., sự tương tự về âm/ chữ của một số chữ cũng gợi đến một số chữ khác vắng mặt trong văn bản như sim soi → xăm soi, lá thu → lá thư khiến người đọc phát hiện ra đằng sau mỗi câu thơ còn những câu thơ khác, đằng sau bài thơ còn bài thơ khác. Như vậy, chính sự ngọng nói ("Lòng mới ngỏ yêu tim ngọng nói/Lời tỏ tình chưa sáng sõi bình minh", Bóng chữ - Tỏ tình), chứ không phải nói ngọng, do cố ý sắp sai vị trí của từ trong câu, đã tạo ra một vết nứt địa chấn cho phép các nhà khảo cổ học tri thức thấy được tầng vỉa của cấu trúc địa chất ngữ nghĩa.
Tháp Gô-tích núm đồi trưa thở nắng Chuông ngân chim thân trắng bướm cựa mình Lửa gạo thắp hoa đèn soi cỏ lạ Mây Sơn Tinh nước cả ngã ba tình (Ngó lời - Trung du)
Là một phong cảnh trung du, một câu chuyện tình huyền thoại Sơn Tinh Thủy Tinh, một người đẹp khoả thân, hay là tất cả.
Tư tưởng lớn của Lê Đạt chính là bút pháp của ông. Écriture Lê Đạt với sự cố ý làm sai, làm lệch, mắc lỗi, thậm chí kháng chỉ, là sự vi phạm các loại trật tự hiện hành, trước hết là trật tự ngôn ngữ.
Tâm phân học không phải là một văn bản. Đó là một tiền văn bản. Nó không phải là lời mà sinh ra lời. Nhà tâm phân học không phải chỉ lý giải một văn bản của vô thức đã có sẵn, anh ta vừa lý giải vừa sản sinh ra nó. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Kinh nghiệm mùa đầu tim sẹo mãi Thất tình ba bảy thất tình hơn (Từ Tình - Kinh nghiệm)
Nhà thơ Lê Đạt (1929-2008)
Đồng đẳng chữ, tức chữ và những bóng chữ, tạo ra một đồng đẳng nghĩa, một chuỗi những từ đồng nghĩa, nghịch nghĩa, hoặc nghĩa tương tự. Đồng đẳng câu, hoặc những thành phần trong câu, cũng tạo ra sự đồng đẳng nghĩa. Tức những ngó lời, lời ngó, vừa mới ra đời còn non tơ (như ngó cần, ngó sen), vừa ngấp ngó, nghiêng ngó (như chim non mới thò đầu ra miệng tổ) chưa hiện thân hẳn. Như vậy, Lê Đạt đã đi một mạch từ khi thi pháp chữ đến thi pháp câu. Và bây giờ, liệu có thể nói đến một thi pháp nghĩa ở thơ ông?
Thực ra, ở những phiếm đoạn trên, khi bàn về chữ, câu Lê Đạt, tôi cũng đã là bàn đến, một thi pháp nghĩa Lê Đạt. Tức cái cách ông làm để chữ câu cùng lúc phát nhiều nghĩa. Bởi thế, ở đây, trong phiến đoạn này, tôi chỉ nói đến bản chất hoặc thực chất của đồng đẳng nghĩa Lê Đạt, mà cũng chỉ ở một phương diện của nó, là ẩn dụ và điển cố. Đây chính là đặc sắc của từ tình Lê Đạt. Tức cái tình (hoặc khối tình) không chỉ xuất phát từ từ, tức cả (bóng) chữ lẫn (ngó) lời, mà còn từ cả trường nghĩa của từ và, cuối cùng, từ cái không lời đẻ ra lời, từ cái tiền - văn bản đẻ ra văn bản.
Ẩn dụ lớn, chi phối toàn bộ thơ Lê Đạt, là tình yêu. Hay đúng hơn, theo chính Lê Đạt, cái cao hơn cả tình yêu: thất tình! Một tình yêu được đáp ứng tạo ra sự thỏa mãn, khiến con người trùng khít với bản thân, một trạng thái ngủ ngon của người đặc. Còn thất tình tạo ra đau khổ, làm con người lệch mình, trở nên rỗng, một thao thức. Tình yêu hạnh phúc không làm phiền ai, vì nó tự đóng khung trong chính bản thân nó. Tình yêu bất hạnh, ngươợc lại, làm phiền mình ở cõi đời và phiền người ở cõi chữ.
Tựa Từ Tình, Lê Đạt viết:
"Đã có lúc tôi ngờ rằng các nhà thơ tình ít nhiều đều có họ với Từ Thức. Đều đã gặp Thiên thai ít nhất một lần trong đời và vĩnh biệt nó suốt đời.
Từ Tình là những từ thức trong sâu thẳm ta không phút giây tống biệt. Và dấy lên thành thơ.
Đừng nên quên những bài thơ Đường kiệt xuất đa phần đều là những bài thơ ly tình.
Elsa Triolet đã rất tinh tế khi giải thích cái chết của Maia:
Chẳng ai yêu tôi cả. Tôi đi.
Elsa không hiểu rằng đó là một thông lệ - chẳng ai yêu nhà thơ đến điều cả. Trong tình yêu người ta tiêu 2 thứ tiền. Và nhà thơ bao giờ cũng tìm chỉ tệ mạnh. Riêng có từ, vốn nặng lòng. Thơ chính là từ tình, cũng có nghĩa là tự tình, tức yêu đơn phương, yêu thất tình, yêu bóng.
Đó là nỗi sầu vạn cổ, cũng là thách thức và niềm lạc quan ngoan cố của nhà thơ".
Từ thất tình với tư cách là ẩn dụ lớn, ẩn dụ - mẹ, Lê Đạt có hẳn một hệ ẩn dụ - con. Đó là thất tình trong tình yêu trai gái, thất vọng một tình yêu lý tưởng và thất bát trong tình yêu tuổi trẻ. Các ẩn dụ của Lê Đạt đều là những biểu tượngám ảnh. Phần nổi của tảng băng trôi trên biển vô thức.
Muốn hiểu rõ hơn ẩn dụ thơ Lê Đạt, có thể so sánh ẩn dụ với điển cố, cũng dày đặc trong thơ ông. Cả ẩn dụ lẫn điển cố đều tạo ra một sự đồng đẳng, nguồn cội của tính thơ; cả ẩn dụ lẫn điển cố đều thuộc một kiểu tư duy; nhưng ẩn dụ và điển cố khác nhau như bề trái và bề mặt (từ của Camus), như âm và dương. Nếu ẩn dụ là ngôn ngữ ý tượng thì điển cố là ngôn ngữ ý niệm.
Ẩn dụ luôn hồn nhiên, rực rỡ như một bông hoa nở từ thời huyền thoại, mà trên cánh vẫn còn ngậm những hạt sương của buổi sớm nay, còn điển cố là kinh nghiệm tang thương của nhân thế, của lịch sử. Bởi thế, ẩn dụ nghiêng về cảm tính, còn điển cố thiên về lý tính. Ẩn dụ nghiêng về chiều thẳng đứng, từ vô thức đến siêu thức, còn điển cố nghiêng về chiều nằm ngang, liên và xuyên văn hóa. Ẩn dụ và điển cố khác nhau đến như vậy, nhưng trong thơ Lê Đạt thì chúng thường hòa hợp nhau.
Nắng học trò vườn vai thu trắng lá Nỗi bây giờ tượng đá tuổi ngày xưa (Từ Tình - Vườn Luxămbua)
Đến thăm vườn Luxămbua ở Paris, thi nhân nhớ tới tiểu thuyết Cuốn sách của người bạn tôi nổi tiếng của nhà văn Pháp nổi tiếng A. France, trong đó có đoạn miêu tả một cậu bé sáng sáng đi học ngang vườn Luxămbua qua pho tượng vai trắng lá thu rơi. Ở Việt Nam, đoạn văn tuyệt tác này đã được đưa vào Quốc văn giáo khoa thư. Bởi thế, cả khu vườn lẫn cuốn sách đều là kỷ niệm học trò của Lê Đạt. Đó là điển cố. Nó mở rộng sự tương đồng ngữ nghĩa. Nhưng điển - cố - Lê - Đạt không bao giờ dừng lại ở một không gian khác hay một thời gian khác, mà bao giờ cũng lộn trở về với ở đây và bây giờ, để bộc lộ một cái nhìn, một tâm sự: Nỗi bây giờ tượng đá tuổi ngày xưa. Nỗi bây giờ, nỗi tượng đá bây giờ có nguyên nhân của tuổi ngày xưa, tuổi học làm trò. Điển cố lập tức biến thành ẩn dụ.
Lê Đạt rất thích Jacques Lacan, người đưa cấu trúc luận vào phân tâm học. Định đề "vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ" là một công án với nhà thơ. Lacan thỏa mãn Lê Đạt cả ở tâm (phân tâm học) lẫn trí (cấu trúc luận). Phá được công án trên, tức đạt ngộ, thì không còn phân biệt tâm/ trí nữa. Lê Đạt, với những ẩn dụ - điển cố hay điển cố - ẩn dụ, đã đặt một chân vào cảnh giới tâm trí.
10
Thật ra Đông Giuăng (Don Juan) là một kẻ chung tình nhất, chung tình với tình yêu. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Theo danh họa Benme (Bellmer), một vật thể chỉ có thực khi nó bị ham muốn làm cho biến dạng. Một vật thể đồng nhất với bản thân hoàn toàn không hiện thực. Người đàn bà ta yêu không còn là người đàn bà thực của đời thường, người đó đã bị tình yêu của ta làm trở thành bất thường và duy nhất. Và chỉ người đàn bà đó đối với ta là có thực. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Trong làng thơ Việt Nam, Lê Đạt, có lẽ là một nhà thơ tình tình nhất. Trong thơ ông không có những Hêlen, Lôrơ, Ulriquơ cụ thể như ở Rôngxa (Ronsard), Pêtracơ (Pétrarque), Gớt (Goethe), nhưng ở câu thơ nào cũng lồ lộ một khuôn mặt tình yêu. Nói vậy, không phải trong đời thực nhà thơ không có người ông yêu và yêu ông. Có, và hẳn là nhiều. Nhưng, trong đời chữ, thi nhân đã chưng cất những con người cụ thể ấy thành một em, một đấy, một ai… tưởng trừu tượng mà lại rất cá biệt.
Lê Đạt yêu nhiều và, không may cho ông nhưng lại may cho người đọc ông, là thất tình cũng lắm. Nếu không, hẳn thi nhân, với bản chất của mình, sẽ trở thành một "người tình muôn thuở" của một người chứ không phải "người tình một thuở" của muôn người. Với niềm lạc quan ngoan cố của một nhà thơ, càng thất tình, Lê Đạt càng chung tình. Người đẹp cung cấp phụ bạc để nhà thơ sản xuất chung tình (Từ Tình - Đoản ngôn). Nhưng lúc này, như Don Juan, là chung tình với tình yêu. Đó là một thứ yêu tình yêu thường chỉ thấy ở tuổi đầu đời và ở anh nhi tuổi cuối. Và, ở cả nhà thơ.
Thi nhân viết về thất tình, tức những mối tình đã mất nhưng chưa qua. Khác với phần đông chúng ta thường hay lưu giữ những mối tình đã qua nhưng chưa mất. Thất tình Lê Đạt không phải do sự không tương xứng giữa hai bên, mà chủ yếu, do những lệch pha. Tức những nguyên nhân bên ngoài, ngoại cảnh.
Đầu tiên là lệch pha thời đại. Thời cổ tích và thời đại sau cổ tích, tuy đôi khi vẫn còn có cổ tích. Vì thế mới có sự gặp gỡ của Từ Thức với tiên nữ, của Tú Uyên với Giáng Kiều, và Lưu Nguyễn nhập thiên thai… Những mối tình kỳ ngộ và hạnh ngộ như vậy, như những câu thơ hay, như vậy, có lẽ với ai đó chỉ diễn ra "một lần trong đời và vĩnh biệt suốt đời".
Một lệch pha khác đã diễn ra với Goethe, khi ông "vào tuổi ngoài thất thập còn yêu mê mệt một "chíp" thập nhất, tên là Ulriquơ. Và Goethe đã bại, nhưng không phải vì lệch thời, mà
"Nhà thơ đã phạm phải một lầm lẫn to lớn về thể loại. Gớt tin rằng mối tình của mình là một tình ca cổ điển. Ulriquơ lại coi nó như một tình ca sắp đặt hậu tân thời".
Lê Đạt không có được hạnh phúc "nhầm thể loại" như thi hào Đức. Ông chỉ lệch tuổi. Bởi những người tình ra đi thì họ còn trẻ mãi, ít nhất tuổi họ dừng lại ở thời chia tay. Còn thi nhân thì mỗi tuổi mỗi cao: Lòng sang trang thu hồi ký là vàng. Tình yêu trong thơ Lê Đạt, vì thế, mang tính hồi tưởng. Luôn có một khoảng cách thời gian nằm giữa hai người, hay nằm giữa một Lê Đạt bây giờ và một Lê Đạt ngày ấy. Thời gian của thời gian thì mang tính khoa học, tuyến tính (Cốt thuyền đợi nước sông xanh mày vắng/ Một tình sâu gương trắng bạc đầu, Từ Tình - Gương thu). Thời gian của không gian mang tính tâm lý, đa chiều bởi cái nhìn kép (Em ô một lạnh nhìn anh lãnh đủ/ Ngoại dù vùng mùa nhỏ hóa mưa to, Từ Tình - Ngoại dù). Chính những khoảng cách thời gian này đã lọc trong tình yêu (Tim hạn mộng héo cành úa rễ/ Tình lên chùa làm lễ cầu mưa, Từ Tình - Cầu mưa). Nếu tình yêu là hoa, thì tình yêu Lê Đạt là hương. Thứ hương đó ông gọi là thơm. Với ông, hẹn tình là hẹn thơm, còn tình cũ là thơm xưa.
Phố anbum đêm trở lòng lá úa Bóng những đàn bà cũ heo may Vằng vặc môi trăng đường dang dở Hoa mùi thơm cổ má đầy tay (Từ Tình - Thơm xưa)
Một thứ tình yêu được thơm hóa như vậy những tưởng sẽ có một khuôn mặt thuần khiết, không dục tính. Nhầm. Khoảng cách kìm nén dục tính càng lớn, và, càng kìm giữ càng mạnh, thì sự phát lộ càng ở mọi nơi mọi lúc.
Tóc bạc tầm xanh qua cầu với gió Đùi bãi ngô non ngo ngó sông đầy Cây gạo già lơi tình lên hiệu đỏ La lả cành cởi thăm để hoa bay Em về nói làm sao với mẹ… (Bóng chữ - Quan họ)
Bài thơ viết về một câu quan họ "yêu nhau cỏi áo trao nhau"? Về một cảnh sinh hoạt quan họ nơi bến sông đầu bãi? Về sự thức tỉnh tình yêu của một người tóc bạc đi tầm xanh/xuân trước vẻ đẹp của câu hát hay của chính cô em quan họ? Có lẽ là tất cả. Ấn tượng thẩm mỹ vốn phi hình thể, không định hình. Nhưng trên khối đẹp hỗn độn ấy vẫn lấp ló hình thể một người đàn bà khoả thân.
Tính dục Lê Đạt mang tính ẩn ức, toàn hiện.
Tình yêu Lê Đạt mang tính lý tưởng.
11
Lý tưởng được nuôi dưỡng bởi những vỡ mộng Cũng như tình yêu bởi những thất tình. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Hiền tài, hay "hỗn" tài đều là nguyên thủ quốc gia Các nghệ sĩ nói ít nhiều đều dính một trọng tội: Tội kháng chỉ. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Thế kỷ đinh ninh tình cập bến Ghé nhầm một điểm đến trung tên. (Từ Tình - Cặp bến)
Tình yêu đầu đời của Lê Đạt, ngoài yêu tình yêu, yêu phụ nữ, còn có một tình yêu lớn khác: yêu lý tưởng. Một lý tưởng xã hội và một lý tưởng thơ ca. Sự thất tình lần này không khiến thi nhân chừa yêu. Trái lại, càng khiến thi nhân yêu can đảm và sâu sắc hơn. Nhưng lúc này là lý tưởng cách tôn thờ cách mạng thơ thật sự và một lý tưởng sống tự do, sáng tạo trong một môi trường dân chủ, nhân văn.
Tuy nhiên, kinh nghiệm mùa đầu tim sẹo mãi. Và, bên dưới vệt sẹo ấy, là ẩn ức cá nhân. Nỗi đau ấy có thể làm con người gục ngã, cũng có thể làm người ấy đứng dậy, đi tới, đổi thay. Lê Đạt không chỉ vịn câu thơ đứng dậy như Phùng Quán, ông còn sáng tạo ra những câu thơ khác cho người vịn để cùng đi. Chăn bò Côn Sơn, là một bài thơ như thế. Bởi nó không nói về nỗi đau, mà kinh nghiệm nỗi đau. Tức kinh nghiệm vượt thoát ẩn ức cá nhân. Ngoài ra, bài thơ còn là một ví dụ tiêu biểu cho thi pháp nghĩa của Lê Đạt: ẩn-dụ-điển-cố và điển-cố-ẩn-dụ.
Thuở chăn bò bãi cỏ xanh đầu tuổi Côn Sơn trăng vườn vải nỗi thông reo Chòm Yên Tử gió triều neo mây nổi Suối Giải Oan chân lội tội trần (Từ Tình - Chăn bò Côn Sơn)
Trước hết bài thơ có chữ đầu tuổi. Nằm trong sự đối lập với các chữ mà tác giả hay dùng như cuối tuổi, tuổi cuối, thì đầu tuổi ở đây là tuổi đầu, tuổi đầu đời chỉ tuổi trẻ. Xanh đầu tuổi thì chữ xanh có nghĩa nghĩa là non, non nớt trong đối lập với chín, thuần thục. Bởi vậy đầu tuổi, xanh đầu tuổi gia nhập vào chuỗi những từ đồng ý nghĩa khác như tuổi dại ("Đưa anh lần những vùng quên tuổi dại / Thuở trăng sim soi lại bãi tim khờ"), tuổi lú lẫn ("Tuổi lú lẫn/ ngược nhầm ga trẻ dại"…), tuổi mải tàu ("Một góc tuổi mải tàu/ thơ dại mãi") để chỉ một mộng vỡ thời trai trẻ. Đó cũng là nguyên nhân tác giả làm người chăn bò ở vùng Côn Sơn, Yên Tử.
Hình ảnh người chăn… cũng là một biểu tượng ám ảnh trong thơ Lê Đạt. Đó là ông lão chăn dê, lão nguồn, lão núi, ông phó cả ngựa… trong Bóng chữ. Người chăn bò, trong trường hợp này, gợi nhắc đến tích Tô Vũ chăn dê trong văn liệu cổ Hoa hạ. Một người bị lưu đày xa trung nguyên, nhưng suốt bốn mươi năm cô đơn trung nguyên chưa bao giờ xa ông trong tâm trí. Người chăn bò mang một tâm sự được thi nhân gọi là nỗi thông reo.
Nguyễn Công Trứ ngày xưa có bài thơ: Ngồi buồn lại trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười/ Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo/ Giữa trời vách đá cheo leo/ Ai mà chịu rét thì trèo với thông. Nỗi thông reo trong sự liên thông với bài thơ này chỉ, một mặt nỗi buồn cho nhân tình thế thái, mặt khác khẳng định nhân cách cây thông quân tử cứng cỏi, bất khuất, thách thức với gió triều, với mây nổi.
Vườn vải, nhắc vụ án Lệ chi viên (trại vải) đưa đến cái chết thảm khốc của Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Trãi và người thân ba họ. Côn Sơn trăng chỉ Nguyễn Trãi vì bấy khi vụ án xảy ra đang về vườn ở Côn Sơn. Trăng, hoặc trăng/sao, còn chỉ sự trong sạch vô tội của Ức Trai do câu thơ giải oan của Lê Thánh Tông sau này: Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo. Còn suối Giải oan mà người chăn bò ngày nào chẳng chân trần dẫn đàn bò lội qua lại dẫn đến một điển cố khác, khi Trần Nhân Tông rời kinh thành lên tu Yên Tử, các cung nữ đi theo nhà vua đến đây, nhảy xuống suối chết, oan nhưng suối cứ được gọi là Giải oan. Bởi lẽ, trong cuộc đời vô thường như bức tranh vân cẩu, núi Yên Tử như một cái neo khổng lồ neo những đám mây thuyền bồng bềnh trên những ngọn thủy triều gió.
Tất cả những oan khổ lịch sử của một vùng đất địa linh nhân kiệt ấy được tác giả gọi là tội trần. Có thể rằng đó là một tội thực, tội (ác) trần (trụi). Nhưng cũng có thể là một lỗi trần gian. Chính chữ tội trần này làm cho người ta nghĩ rằng người chăn bò không phải là người trần, mà là một trích tiên nào đó bị biếm xuống trần để chịu tội. Hoặc người tiên, người của một không - thời gian khác, sống vương víu trong một thế giới nhiều kiêng khen, làm sao không mắc tội trần?
Đến đây, người chăn bò bỗng không còn chăn những con bò thực nữa, mà Chăn bò Côn Sơn, tức chăn những dãy núi vùng Đông Bắc, Côn Sơn, Yên Tử có hình dạng giống những con bò. Thế là, ông mang một tầm vóc vũ trụ. Cộng thêm tầm vóc nhân loại của Người Chăn Chiên. Hay chí ít cũng của Người Chăn… Chữ! Dựa vào một sự kiện có thật, mang tính tự truyện, thi nhân kể về một hành trình khác, mang tính tinh thần của người biết vượt thoát ẩn ức cá nhân của mình bằng kinh nghiệm văn hóa - lịch sử của nhân loại, vượt thoát cái tôi đơn ngã để trở thành cái tôi đa ngã bằng những bóng chữ, những ngó lời, những từ tình, sáng tạo và thanh lọc.
12
Người trẻ ưa xê dịch không gian gọi là du lịch. Người già ưa xê dịch thời gian gọi là thư tịch. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Tóc bạc chữ mầm xanh thiên lý Tuổi Cao Biền tim vị thành niên (Từ Tình - Lời xanh)
Nợ một khoản bạc đầu chưa trả hết Lãi mẹ lãi con lụy mấy khiếp lời. (Từ Tình - Nợ)
Tuổi trẻ trong thơ Lê Đạt có tính lưỡng giá. Một mặt, có giá trị tiêu cực, vì nó đồng nghĩa với tuổi dại, tuổi lú lẫn, đầu đời, đầu tuổi…, chỉ sự non nớt, dẫn đến nhầm lẫn. Mặt khác, đây là giai đoạn đẹp nhất của đời người, lúc con người yêu tự do, giàu sáng tạo, khát khao lý tưởng, can đảm, hào phóng và độ lượng. Nhưng thời gian sẽ cướp mất tuổi trẻ của mỗi người: cái ngây mất đi thì cái thơ cũng chẳng còn. Giữ được thơ, họa chăng chỉ có những chân nhân như Trang Tử và những thi nhân, như…
Nhưng, giữ được anh nhi, thi nhân lại rơi vào một bi kịch khác: sự lệch pha giữa tâm hồn và thể xác, giữa tôi và cuộc đời. Già mà trẻ thì tạo ra bi kịch, còn trẻ mà già thì tạo ra hài kịch. Bởi thế, hình tượng ám ảnh nhất trong thơ Lê Đạt đó là tóc bạc, một dấu hiệu của tuổi già, sự trải nghiệm, sự đau khổ: tóc bạc ("Nắng tắt tuổi chiều mưa nặng hạt/ Đầu hồi nghe tóc bạc lạnh rơi", "Mi rợn liễu rờn xanh xao xác/ E đầu ta tóc bạc lầm nhà"), bạc đầu ("Thời gian mù bạc đầu lau ăn lối"; "Tóc bạc vằng vặc trắng/ Gối bạc đầu vào đâu”), bạc tóc ("Rõ tám hướng riêng nhà ai khuất góc/ Nắng đơn phương tháp bạc tóc bất thường"), trắng tóc ("Hoa đào mải giục môi em thắm/ Mặc hoa mơ xui trắng tóc anh già”), tóc dại ("Ô che cùng khung xuân cụp lại/ Đầu trần tình tóc dại dầm mưa"), tóc muộn ("Tóc muộn cuối hè heo sớm/ Lá vàng thu ỡm ờ thư"…)
Trắng, bạc càng nổi hơn khi đối lập hoặc liền kề với xanh, xuân, biếc cũng tràn ngập thơ Lê Đạt: ga xanh ("Đời tốc hành/ một ga xanh còn sót lại"), tầm xanh ("Tóc bạc tầm xanh qua cầu với gió"), phải xanh ("Đại lộ trắng những điều con gái/ Lòng phải xanh quên đèn đỏ sang đường"), xanh ("Mắt bão đã qua xanh còn dốc ống/ Lũ quét đêm rừng xác mộng dềnh sông"), đặc biệt cặp đôi mâu thuẫn logic xuân già ("Mưa mới vườn xưa cây hỏi tuổi/ Xuân già e hẹn lỗi mơ non")…
Bi kịch khoảng cách xuân già/ mơ non, tóc bạc/ tầm xanh… không phải ai cũng giải quyết được. Ngày xưa, Nguyễn Công Trứ xóa bỏ khoảng cách này bằng sự đánh tráo thời gian một cách hài hước: Ngũ thập niên tiền ngã thập tam (Năm mươi năm trước anh hai ba tuổi). Còn Dương Khuê thì ngậm ngùi tuyệt tác Hồng hồng tuyết tuyết. Lê Đạt vừa hài hước vừa ngậm ngùi:
Gắng chữ với thời gian tri kỷ U thất tuần bồ nhí mộng hăm (Từ Tình - Bồ nhí)
Hăm trong đối sánh mới với thất tuần có nghĩa là hai mươi, hăm mốt, hăm hai…, tuổi hăm (tuổi băm) và khoảng cách giữa hai tuổi ấy làm cho giấc mơ về tuổi hai mươi, trở thành mộng hâm, thậm chí chữ hăm được hiểu theo nghĩa bệnh lý như đứa trẻ bị hăm. Mâu thuẫn này chỉ có thể hóa giải được bằng sáng tác, gắng chữ, để thời gian trở thành tri kỷ. Nhà thơ, trong nghĩa này, đúng là kẻ tự ăn thịt mình mà lớn lên.
13
Cái hấp dẫn nhất trong đời một nhà văn không phải chuyện những chìm nổi tình trường mà chuyên phiêu lưu trong phong cách của anh ta. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Bút pháp là một hành động văn hóa chống lại sự xáo trộn phá hoại của thời gian, họ hàng với cái chết. Nó cũng là lời giải đáp cho câu hỏi tồn tại hay không tồn tại của tác phẩm. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Theo Francis Ponge, tất cả nỗ lực của nhà thơ là tìm cách biến những vật dụng (objet) đời thường thành những vật chơi (objeu) đời chữ. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Thơ bấy lâu nay lạc mất mục đích của mình, khuất thân làm công cụ. Mục đích Lê Đạt, và những đồng thi sĩ của ông, là đưa thơ về với thơ. Tức tạo ra những đồng đẳng. Đành rằng, sáng tạo này chẳng phải của riêng ai, nhưng cách sáng tạo đồng đẳng của Lê Đạt là hết sức độc đáo và trên mọi cấp độ. Ông lấy chữ làm trung tâm và cho nó tự "lạ hóa" mình bằng các biến điệu ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa thành các chữ nhịu, thành sự ngọng nói. Thi pháp chữ, thi pháp câu và thi pháp nghĩa, ba chân kiềng ấy thành thi pháp Lê Đạt, thành bút pháp (écriture) của ông.
Trước đây, có người ví mỗi bài thơ Lê Đạt như mọi chiếc bánh lá không nhân. Người đọc bóc gỡ hết lớp lá ngôn từ này đến lớp lá ngôn từ khác để cuối cùng thất vọng, vì không thấy cái hạt nhân tư tưởng đâu cả. Lúc ấy, tôi đã ngầm biện hộ cho ông rằng thi nhân không làm thơ để "diễn tư tưởng", thứ mà ông ngán tận óc. Lê Đạt làm thơ bằng chữ. Tư tưởng thơ, bởi vậy, chính là thẩm mỹ ngôn từ, cái mà người đọc thích khoái khi thực hành thao tác bóc, khi đồng hành nhà thơ "tha thẩn chữ ngã ba".
Rồi chính tôi cũng thấy thơ Lê Đạt tản mạn. Hình như sự tản mạn làm tăng cảm giác thơ ông là sự lưỡng lự giữa kỹ thuật và nghệ thuật. Bích Khê cũng như vậy. Còn Hồ Xuân Hương tuy rất kỹ thuật, nhưng cái triết lý phồn thực đã kết bó thơ bà thành một chỉnh thể nghệ thuật. Lê Đạt hình như thiêu thiếu một tư tưởng lớn như vậy. Dĩ nhiên, người làm thơ không phải cứ chăm chắm đến tư tưởng, nhưng một nhà thơ lớn bao giờ cũng đột ngột xuất hiện một tư tưởng lớn ở chặng cuối hành trình thẩm mỹ của mình.
Tư tưởng lớn của Lê Đạt chính là bút pháp của ông. Ecriture Lê Đạt với sự cố ý làm sai, làm lệch, mắc lỗi, thậm chí kháng chỉ, là sự vi phạm các loại trật tự hiện hành, trước hết là trật tự ngôn ngữ. Sự vi phạm tập quán lập ngôn này xuất hiện ở mọi cấp độ, từ vi mô một âm vị đến vĩ mô toàn bộ diễn ngôn. Bởi thế, bút pháp Lê Đạt chính là cái nhìn thế giới của nhà thơ.
Trước hết, đây là một cái nhìn mang tính kỹ thuật. Nhưng không phải là thứ kỹ thuật khéo tay của thời đại thủ công, mà kỹ thuật trí tuệ của thời đại công nghệ cao và điện tử tin học. Lúc này từ kỹ thuật đến nghệ thuật chỉ còn một bước. Thậm chí, kỹ thuật chính là nghệ thuật. Thơ Lê Đạt, quả thực, nhiều lúc khó phân biệt đâu là kỹ thuật đâu là nghệ thuật.
Tuy vậy, nghệ thuật của Lê Đạt không thiên về phía khoa học, phía ánh sáng, mà ở vùng do dự giữa ánh sáng và bóng tối. Đó là không-thời gian của bóng chữ, của ngó lời, của từ (lúc này hiểu là từ trường, hoặc trường ngữ nghĩa) tình. Nhà thơ đề cao tiềm thức, vô thức của phân tâm học và siêu thức (cảnh giới ngộ) của thiền.
Cuối cùng, Lê Đạt coi nghệ thuật là trò chơi.
Và, thi nhân chính là người chơi.
14
Điều đáng buồn nhất đối với một nhà thơ là ly kỳ trong đời thực và tẻ nhạt trong đời chữ. (Từ Tình - Đoản ngôn)
Phần lớn các tôn giáo đều quá nghiêm túc, chỉ có Thiền là biết đùa. Hermann Hesse cho rằng: "Cái nghiêm túc là một hiểu lầm xuất phát từ sự phóng đại giá trị của thời gian. Trong vĩnh hằng, thời gian không tồn tại. Vĩnh hằng là một khoảnh khắc dài vừa đủ một lời bông phèng". (Từ Tình - Đoản ngôn)
Icarơ khối nằm nghiêng đá lạnh Nợ chân trời mây động cánh đòi bay (Từ Tình - Tượng Icarơ)
Lê Đạt ý thức sâu sắc rằng ông là sản phẩm của chữ. Chữ bầu nên nhà thơ. Tuy nhiên, mỗi một nhà thơ đều có một cuộc sống kép: đời thực và đời chữ. Lê Đạt ưu tiên đời chữ. Ông thấy sống trong đời chữ tự do hơn, sáng tạo hơn và, do đó thú vị hơn. Lê Đạt coi thơ là cuộc chơi lớn của đời mình, thậm chí là cuộc đời mình. Chơi với chính mình và với người khác.
Trong ván thơ này, Lê Đạt là một người chơi đẹp. Bởi ông biết rằng chơi thơ không phải là một cuộc chơi cổ điển có người thắng kẻ thua, đối thụi, theo nguyên lý loại trừ, mà là cuộc chơi hiện đại cả hai cùng thắng, đối thoại, theo nguyên lý bổ sung. Giá trị cuộc chơi, vì thế, là lớn hơn không. Bởi lẽ, mỗi người chơi đều chơi hết mình,và quan trọng hơn, không ngừng sáng tạo cách chơi, kể cả luật chơi, khiến cho trò chơi - thơ không ngừng phong phú, hấp dẫn.
Nếu Tản Đà là người chơi trong đời thực để từ đó chơi trong đời chữ, thì Lê Đạt, ngược lại, là người chơi trong đời chữ để được chơi trong đời thực. Từ chỗ chơi thơ đến chỗ chơi đời có thể cùng một nguyên tắc chơi cả. Người chơi Lê Đạt vừa là người trong cuộc, chơi trung thực, hết mình, vừa là người ngoài cuộc bình thản nhìn mình và người khác chơi, thậm chí đặt mình vào địa vị của người khác để cùng chơi. Cái tôi đa ngã này khiến Lê Đạt không coi cái gì trên đời này là nghiêm trọng cả, trái lại biết nhìn đời một cách hài hước, khoan hòa độ lượng. Thái độ của một chân nhân.
15
Phố cũ chia tay ngày nắng tắt Chớp còn nháy biển mắt mưa cơn
(Từ Tình - Chia tay)
Si mấy mùa chờ cây đứng ngủ Tóc xù râu tủa chữ hoang vu (Từ Tình - Cây si)
Như em bé viễn dương thuyền rãnh nhỏ Đông lạnh thơ ngây cảng trữ Vịnh bạc đầu Quẫy sáng đuôi vài thủy nữ Buồn bềnh vai bướm thuyết minh xanh (Từ Tình - Thuyết minh xanh)
Thơ Lê Đạt là ngọn núi Vô Sơn. Rừng không có cửa vào. Núi không có lối lên. Ai muốn trèo đỉnh phải tự mình mở lối. Và ngay khi gót chân vừa nhấc khỏi mặt đất, lối đi ấy tự động khép lại. Thơ Lê Đạt, bởi thế, bao giờ cũng nguyên sinh. Rồi chính sự trinh nguyên ấy lại dẫn dụ những bàn chân. Mở lối.
Đỗ Lai Thúy
(Bốn chín ngày Lê Đạt)
-------------
(*). Tác phẩm Lê Đạt: Bóng chữ, Hội nhà văn, 1994; Ngó lời, Văn học, 1997; U75 Từ tình, Phụ nữ, 2007.
1. Xem thêm Đỗ Lai Thúy, Trần Dần - một thi trình sạch, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 4, 5-2008.
2. Xem thêm: Đỗ Lai Thúy, Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm trong Phân tâm học và tình yêu, Văn hóa Thông tin, 2004.
3. Xin xem: Cao Xuân Hạo, Về lịch sử của khái niệm "chủ ngữ" trong Tiếng Việt văn Việt người Việt, Tre, 2001.
4. Xin xem: Đoàn Phú Tứ, Đi tìm chủ từ trong vài đoạn văn "Đoạn trường tâm thanh", Hội Văn hóa Việt Nam - Ban ngôn ngữ văn tự, 1949.
5. Xem thêm: Đỗ Trinh Huệ (biên khảo), Văn hóa tín ngưỡng gia đình Việt Nam qua nhãn quan học giả L. Cadière, Thuận hóa, 2000.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.