• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
 
NÓI LẠI CHO NHỮNG NHÀ VĂN ĐÃ KHUẤT

NÓI LẠI CHO NHỮNG NHÀ VĂN ĐÃ KHUẤT



 

                                                                                                                                                                    PHẠM KHẢI
 
                                                                             (Xung quanh những nhận định sai lệch về một số nhà văn đã quá cố)
 

 
Đọc bài viết “Nguyễn Khải - nhà văn (1930-2008)” được tải trên trang web của GS Trần Hữu Dũng (một Việt kiều hiện định cư ở Mỹ), tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy tác giả Ngô Văn Tao đã đưa ra những sự, những việc không biết từ đâu mà có? Chẳng hạn: “Nguyễn Khải không có cái khắc khoải như cái khắc khoải âm thầm dằn vặt của Tô Hoài với cái chết mờ ám của Nam Cao”. Từ trước tới nay, chúng ta đều biết sự hy sinh của Nam Cao sáng rõ như ban ngày. Bao nhiêu bài báo đã đề cập tới sự kiện bi thương này. Bản thân Nam cao cũng đã được truy tặng danh hiệu liệt sĩ. Hài cốt ông đã được nhiều cơ quan đơn vị phối hợp tìm kiếm. Nhà văn Tô Hoài cũng đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần chuyến đi cuối cùng vào vùng địch hậu của Nam Cao, cũng như những chuyện mà Tô Hoài nghe được về phút Nam Cao bị địch sát hại. Không dòng nào cho thấy cái chết của Nam Cao là “mờ ám”, là khiến Tô Hoài phải “khắc khoải âm thầm dằn vặt” cả. Đưa những chữ “dằn vặt”, những chữ “mờ ám” vào đây là vừa xúc phạm nhà văn Tô Hoài, vừa xúc phạm anh hồn nhà văn, liệt sĩ Nam Cao.

Cũng trong bài viết nói trên, tác giả Ngô Văn Tao có nhắc đến nội dung cuốn tiểu thuyết “Thượng đế thì cười” - một cuốn tiểu thuyết mang nhiều yếu tố tự truyện của nhà văn Nguyễn Khải. Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết này và rất ngạc nhiên khi thấy ông Tao nhắc chuyện Nguyễn Khải gặp lại người thân (trong đó có cha mình) những ngày đầu giải phóng Sài Gòn và họ đã nhìn Nguyễn Khải “như một kẻ lạ, như một kẻ cướp”. Tôi xin nhắc lại, tôi đã đọc rất kỹ cuốn sách này (NXB Hội Nhà văn, 2003) và không thấy chỗ nào cho hay, Nguyễn Khải bị cha mình nhìn “như một kẻ cướp” cả. Còn việc ông cụ lạnh lùng, hờ hững với Nguyễn Khải thì đó là cả câu chuyện dài xuất phát từ những bi kịch riêng trong gia đình nhà văn. Không thể nói một câu trần trụi như vậy là giải quyết xong vấn đề.

Không chỉ đưa ra những thông tin sai lệch về các nhà văn Nam Cao, Nguyễn Khải (đều đã mất), mà với một nhà văn quá cố khác - nhà văn Vũ Bão - ông Ngô Văn Tao cũng có những tình tiết cho thấy sự hiểu biết của ông về cuộc đời và văn nghiệp nhà văn Vũ Bão còn rất hạn chế. Tiếng là để trả lại sự công bằng cho một nhà văn từng bị vùi dập đến “tan tành kiếp sống” (chữ của ông Tao) vì tác phẩm “Sắp cưới” bị chỉ điểm là lệch lạc phản động”, song điều lạ là ngay cả cái tên của nhà văn Vũ Bão cũng không được ông Tao nhắc tới một cách… nghiêm túc. Bài viết có đến 3 lần ông Tao nhắc tới tên tác giả tiểu thuyết “Sắp cưới” thì cả ba lần ông đều viết ra là…Vũ Bảo. Do lỗi morát chăng? Tôi nghi ngờ khả năng này, bởi trong bài viết, ông Ngô Văn Tao nhắc đi nhắc lại việc nhà văn Vũ Bão bị “khai trừ”, trong khi thực tế, trong các bài có tính chất hồi ký của chính Vũ Bão, chưa lần nào chúng tôi thấy ông đề cập tới việc này cả. Tiếc là cả ba nhân vật (các nhà văn Nam Cao, Nguyễn Khải, Vũ Bão) đều đã mất nên họ không thể trực tiếp lên tiếng yêu cầu ông Ngô Văn Tao cải chính về những tình tiết sai lệch mà ông đã đưa ra.

Cũng vẫn trên trang web của ông Trần Hữu Dũng còn có bài viết của tác giả Nguyễn Hưng Quốc “Chính trị hóa gia đình: Một chính sách lớn của cộng sản”. Bài viết có trích dẫn một số câu trong bài thơ “Núi đôi” trứ danh của nhà thơ Vũ Cao, với cách phân tích, bình luận… chẳng giống ai (có thể có người sẽ cho rằng, sáng tạo là phải…không giống ai như thế). Tuy nhiên, điều khôi hài nhất là 3 đoạn trích thì 2 đoạn ông Nguyễn Hưng Quốc trích sai. “Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em” (chứ không phải “Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng núi”); “Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc/ Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu” (chứ không phải “Làng ta rồi sẽ đẹp bao nhiêu”). Riêng đoạn thơ ông Quốc trích dẫn… không sai thì buồn thay, cách nhìn nhận của ông lại rất không ổn. Làm sao từ hai câu thơ: “Nhớ nhau, anh gọi: em, đồng chí/ Một tấm lòng trong vạn tấm lòng”, ông Quốc lại có thể bình luận ra là “Em không còn là em. Em chỉ là một người đồng chí. Chỉ là một trong muôn vàn những đồng chí. Một tấm lòng trong vạn tấm lòng. Nghe bất nhẫn? Nhưng đó là ý đồ cộng sản”.

Những ai từng đọc bài thơ “Núi đôi” của nhà thơ Vũ Cao, hẳn đều thấy tình cảm của đôi trai gái trong bài thơ là rất đậm đà và trong trẻo. Việc người con trai (anh bộ đội) xa xót trước sự hy sinh của người con gái (cô du kích), và trong một phút giây nhớ nhung, xao xuyến, từ tâm khảm anh vọng lên: “Ai biết tên em thành liệt sĩ/ Bên những hàng bia trắng giữa đồng/ Nhớ nhau anh gọi: em, đồng chí/Một tấm lòng trong vạn tấm lòng”, thiết nghĩ chẳng có gì “lên gân” ở đây. Chữ “đồng chí” xuất hiện trong câu thơ là hoàn toàn tự nhiên, nằm trong mạch cảm xúc chung, chẳng có gì đao to búa lớn đến độ ông Nguyễn Hưng Quốc phải cáo buộc “đó là ý đồ cộng sản” cả. Nhà thơ Vũ Quần Phương khi bình bài thơ này cũng có một nhận xét: “Bài thơ thấm thía nhưng không buồn bã; đau xót nhưng không rền rĩ; ý chí mạnh mẽ nhưng không lên gân”. Bài thơ từ ngày ra đời đến nay, đã có sức lan tỏa rộng rãi trong công chúng, được nhiều bạn trẻ yêu mến chép trong sổ tay. Nói nó có những câu đọc lên “nghe bất nhẫn” là một cách đọc rất… khác người của ông Nguyễn Hưng Quốc
Cũng vẫn trong bài viết nói trên, ông Nguyễn Hưng Quốc còn trích dẫn mấy câu thơ trong bài “Không nói” của nhà văn Nguyễn Đình Thi. Bài thơ có 2 chữ “đồng chí” (Chiều mờ gió hút/ Nào đồng chí - bắt tay/ Em/ Bóng nhỏ/ Đường lầy) và đó là cái “cớ” để ông Quốc so sánh nó với bản in sau này của Nguyễn Đình Thi: “Chiều mờ gió hút/ Em/ Bóng nhỏ/ Đường lầy” và đi đến kết luận: “Trong bản mới, chữ “đồng chí” biến mất. Nhưng ảnh hưởng tai hại của việc chính trị hóa tình cảm gia đình, trong đó có tình cảm nam nữ và tình cảm vợ chồng có thể dễ dàng biến mất?”.

Ở đoạn trích dẫn trên, ngoài việc có cách “khái quát” vấn đề khá khiên cưỡng, ông Quốc đã thể hiện rõ là ông chưa thực nắm được những tình tiết liên quan đến văn bản bài thơ “Không nói”. Sự thực, bản ông Quốc đưa ra (không có hai chữ “đồng chí”) mà ông nói là do nhà văn Nguyễn Đình Thi “sửa lại ngắn hơn” kỳ thực là bản đầu tiên của bài “Không nói” (được Nguyễn Đình Thi sáng tác và cho in những năm đầu kháng chiến chống Pháp). Còn bản có hai chữ “đồng chí” mới là bản sau này Nguyễn Đình Thi sửa lại. Điều này, những ai am tường đời sống văn học cũng như văn nghiệp của Nguyễn Đình Thi hẳn đều biết. Như vậy, một khi thông tin chưa chuẩn thì mọi lý lẽ, nhận định dựa vào đó cũng không thể có cơ đứng vững.

Vẫn trên trang web của ông Trần Hữu Dũng, tôi còn được đọc bài “Văn học trẻ có thể tiếp bước cha ông?”. Trong bài viết này, tác giả Ngân Hà đã có những nhận xét về một số nhà văn thế hệ trước phải nói là khá… mạnh dạn. Tiếc là có những điểm không được chính xác, tạo cho bạn đọc cảm giác tác giả…nói lấy được. Ví như với trường hợp nhà thơ Xuân Diệu, Ngân Hà viết: “Xuân Diệu khi vừa xuất hiện trong phong trào Thơ Mới đã để lại những bài thơ tình bất hủ cho thi ca Việt Nam và từng được mệnh danh là “ông hoàng của thơ ca”. Nhưng từ giai đoạn 1945 trở đi thì thơ của ông rẽ sang một hướng khác và ít được biết đến”. Ở đây, thiết nghĩ cần phải trao đổi lại với tác giả Ngân Hà thế này: Về thơ Xuân Diệu, thời kỳ trước Cách mạng hay sau Cách mạng, thời kỳ nào hay hơn thì còn tùy thuộc vào quan điểm, đánh giá riêng của mỗi người. Song nói từ giai đoạn 1945 trở đi, thơ ông “ít được biết đến” là một cách nói…liều. 

Tại sao lại ít được biết đến trong khi số người biết đọc biết viết trong chế độ mới tăng hơn trước rất nhiều, và số lượng ấn bản cũng nhiều hơn. Hãy nghe chính nhà thơ Xuân Diệu tâm sự trong bài bút ký “Mười lăm năm sống trong chế độ”: “Năm 1955, tập thơ “Ngôi sao” của tôi in 1.500 quyển; năm 1960, tập thơ “Riêng chung” của tôi in tới 6.000”. Có thể nói, đây là một con số rất đáng phấn khích nếu ta biết rằng, tập “Thơ thơ” của Xuân Diệu tiếng là được bạn đọc (giai đoạn trước Cách mạng) đón nhận nồng nhiệt, song số lượng in ban đầu cũng chỉ chừng 1.000 đến 2.000 bản. Tất nhiên, bản thân Xuân Diệu cũng hiểu: “Có một phần là do chế độ đã từng ngày, từng năm đi làm thêm người đọc; có thể gọi chăng, đó là một phép tiên, một ân huệ của chế độ đổ vào túi thơ của người thi sĩ”, nhưng như vậy thì không thể nói thơ Xuân Diệu “ít được biết đến” được.
 
Cũng vẫn cách nói nặng yếu tố chủ quan, ấy là khi tác giả Ngân Hà nhận xét: Chế Lan Viên được ghi nhận thành công ở giai đoạn đầu sáng tác”. Làm sao có thể “lờ” đi giai đoạn “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên, phần quyết định đưa ông đến với giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật?
 
Nguồn: Văn nghệ Công an


Tin tức mới
♦ CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 6: ĐẦM BA SƠN - Hồi ức MAI BÁ ẤN (16/09/2026)
♦ CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI (16/09/2026)
♦ CHÙM THƠ TRẦM THỤY DU - TÔI NGỒI LẠI VỚI MÙA THU QUẢNG NGÃI (16/09/2026)
♦ NHÀ THƠ VŨ CAO - VĂN PHẨM VÀ CUỘC ĐỜI - Tiểu luận NGÔ VĨNH BÌNH (16/09/2026)
♦ NHÀ THƠ HỮU LOAN VỚI 'MÀU TÍM HOA SIM' (16/09/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2284698
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 145380
Truc tuyen Trực tuyến: 15

...

...

Designed by VietNetNam