TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
MỘT BÀI THƠ MANG NẶNG TÂM HỒN THI SĨ CỦA CHU VĂN SƠN
MỘT BÀI THƠ MANG NẶNG TÂM HỒN THI SĨ CỦA CHU VĂN SƠN
MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN
Chu Văn Sơn ít làm thơ, nếu không muốn nói rằng: hai bài thơ anh viết khi lãng du trên đỉnh Mẫu Sơn có thểlà duy nhất. Chất thơ và chất suy tưởng tràn ngập trong tâm hồn anh đã trang trải hết trong các bài phê bình và tùy bút, như bài tùy bút viết về hoa lau-“Phận hoa bên lề”(1)mà trong đó anh bảo: lau như phận hoa lưu đày, và con đường của phận người là đường tới hoa lau…
Nhà phê bình Chu Văn Sơn
Nhưng có lẽ, phải bằng thơ, Chu Văn Sơn mới tạm yên lòng trước thân phận của một loài hoa khiến anh trăn trở xúc động tới độ chảy nước mắt.
Nhân một lần tới đỉnh Mẫu sơn vào dịp mà ngay giữa Thủ đô mọi người phải mặc áo đại hàn, Chu Văn Sơn đã "gặt hái” được hai "bông hoa thơ” về Tuyết và Hoa Layơn. Đều là cảm hứng về sự cô đơn, sự lãng quên, song "Tuyết Mẫu Sơn"(2) mới chỉ là sự gợi mở, gợi hứng, còn "Hoa Layơn đỉnh Mẫu Sơn" lại như một sự tổng kết, sự suy ngẫm của anh về nhân tình thế thái… Chu Văn Sơn viết cho tôi trong một thư điện tử: "Trên đỉnh Mẫu Sơn có một loài hoa do người Pháp mang sang trồng trong những khuôn viên biệt thự từ đầu thế kỉ trước. Sau 1945, người Pháp đã đi khỏi xứ này, hoa bị bỏ lại. Thành hoa hoang. Giờ vẫn mọc lẫn giữ hoa hoang cỏ dại. Giống bị thoái hóa, gầy guộc nhợt nhạt. Rất thương. Đó là Layơn. Phận Hoa? Phận đàn bà? Phận người? Thân phận cái đẹp?... Thấy lẫn lộn trong một kiếp Layơn ấy.”
Hoa Layơn đỉnh Mẫu Sơn
Những cành Layơn
cong queo
gầy rớt
ngập đời giữa đám cỏ hoang
từng bông lơ ngơ
từng bông nhàu ướt
từng bông tái nhợt
cố nhoi lên
cố kiễng lên
nhìn mây cuốn về xa
Bàn tay xưa giờ nâng niu chăm chút chốn nào
ánh mắt xưa giờ say ngắm nơi đâu
bỏ rơi hoa nơi lưng trời
chôn chân hoa nơi đất khách
giữa thinh không mình em đơn độc
mòn mỏi kiếp hoa hoang vu…
Biết chia sẻ làm sao trước dáng hoa trầm cảm
biết an ủi làm sao trước phận hoa lưu đày
khi giọt tuyết của mùa đông cũ
vẫn thầm hoen nhụy phấn mỗi ngày
Muốn nói với em lời vu vơ như gió
e rằng hoa đã sương gió một đời
muốn tỏ cùng hoa lời nồng nàn của nắng
e hoàng hôn phai trên cánh
lại thôi
Muốn nán lại bên hoa
mà ngại mình nông nổi
muốn đem hoa đi
mà đời mình rong ruổi
lại thôi
Tần ngần Layơn
dùng dằng đỉnh núi
còi xa cuồng lên réo gọi
đành lòng
phải đành lòng
thôi
Chào nhé
chao ôi lời chào nhé
lời cỏ hoang
lời đỉnh vắng
lời mặn sương
lời nhạt nắng
lời nào không cực lòng nhau
Sao từ khi
một mình xuống núi
trái núi nào
cũng mộng mị Mẫu Sơn
sắc hoa nào
cũng tái nhợt
Layơn...
Là người chuyên nghiên cứu về thơ đến độ chìm đắm trong thơ, khi viết "Hoa Layơn đỉnh Mẫu Sơn" chắc hẳn Chu Văn Sơn phải nghĩ ngay đến những nhà thơ lãng mạn Pháp thế kỷ XIX thường lấy hoa làm thi liệu, thi hứng, thi cảm… Nhưng cũng thật may, thói quen luận lý, khái quát của một nhà phê bình lý luận văn chương trong anh đã biến hẳn đi trước những bông Layơn mỏng manh yếu ớt, để mình anh trơ trọi với xúc cảm thi sĩ… Mà đã là thi sĩ đích thực, ai mà không thể không khóc cùng G. Apollinaire "Giã biệt” hoa: Anh đã ngắt chùm hoa thạch thảo này/ Mùa thu đã chết, em nhớ cho/ Chúng ta sẽ chẳng còn gặp nhau trên mặt đất/ Hương thời gian ở chùm hoa thạch thảo / Và em hãy nhớ: anh vẫn chờ đợi em (L’ Adieu- Hoàng Hưng dịch). Xin nhớ lại cuốn tiểu thuyết kiệt tác "Vỡ mộng" (iIlusion perdu) của H. Balzac, nhân vật chính ở giai đoạn trong sáng đẹp đẽ nhất đã có một tập bản thảo thơ đầu tay mang tên hoa: "Những bông cúc”… Và những "bông cúc tâm hồn” của chàng thanh niên thi sĩ Lucien Chardon tội nghiệp đã bị những quy luật của đồng tiền giết dần giết mòn đến thê thảm!
Đến Mẫu Sơn, thi sĩ đã "Bất ngờ” chứng kiến cảnh hoa Layơn, tuy chưa bị ngắt, bị giết, nhưng nếu như vậy còn đỡ đau lòng hơn cảnh: Những cành Layơn/ cong queo/ gầy rớt/ ngập đời giữa đám cỏ hoang/ từng bông lơ ngơ/ từng bông nhàu ướt/ từng bông tái nhợt/ cố nhoi lên/ cố kiễng lên/ nhìn mây cuốn về xa
Thi sĩ buộc phải tự hỏi trong nỗi niềm se sắt, có đượm oán giận, trách móc: Ai đã đem em tới Mẫu Sơn… Bởi anh mặc nhiên coi hoa tựa một sinh mệnh đáng yêu, mỏng manh, yếu đuối, thơ ngây, mang trong mình biểu tượng của Tình yêu, sự hài hoà nguyên sơ thánh thiện nhưng lại có rất ít khả năng tự bảo vệ: Bàn tay xưa giờ nâng niu chăm chút chốn nào/ánh mắt xưa giờ say ngắm nơi đâu/ bỏ rơi hoa nơi lưng trời/ chôn chân hoa nơi đất khách / giữa thinh không mình em đơn độc / mòn mỏi kiếp hoa hoang vu…
Đồng thời thi sĩ cũng cảm thấy rõ một sự thật cay đắng - đó là sự bất lực của chính mình trước phận người, phận hoa trong cơn lũ thực dụng của thế giới "Tấn trò đời”: Biết chia sẻ làm sao trước dáng hoa trầm cảm/ biết an ủi làm sao trước phận hoa lưu đày/ khi giọt tuyết của mùa đông cũ/ vẫn thầm hoen nhụy phấn mỗi ngày
Thế rồi, sự tần ngần, băn khoăn, lưỡng lự với tâm lý đời thường nhưng cũng đầy nhân bản và tinh tế của thi sĩ trước những bông hoa gầy yếu khiến nỗi đau lòng xa xót như càng khía sâu thêm vào lòng người đọc: Muốn nói với em lời vu vơ như gió/ e rằng hoa đã sương gió một đời/ muốn tỏ cùng hoa lời nồng nàn của nắng/ e hoàng hôn phai trên cánh / lại thôi/ Muốn nán lại bên hoa/ mà ngại mình nông nổi/ muốn đem hoa đi/ mà đời mình rong ruổi/ lại thôi/ Tần ngần Layơn/ dùng dằng đỉnh núi/ còi xa cuồng lên réo gọi/ đành lòng/ phải đành lòng/ thôi
Việc ngắt câu thất thường cũng góp phần diễn tả nỗi lòng ngổn ngang, đứt gãy, khó xử, để tới đoạn sau, lời chào của thi sĩ chợt giống một tiếng thở dài, sau đó là một tiếng khóc cố nén lại nhưng cuối cùng cũng phải vỡ ra thành những lời nghẹn ngào: Chào nhé/ chao ôi lời chào nhé/ lời cỏ hoang/ lời đỉnh vắng/ lời mặn sương/ lời nhạt nắng/ lời nào không cực lòng nhau
Tĩnh tâm lại, chàng thi sĩ đa cảm đã ngẫm nghĩ về cái cuộc đời vốn nặng trĩu Mẫu Sơn, Layơn, nhưng ở đây lại có sức khái quát giàu khả năng liên tưởng và lay động: Sao từ khi/ một mình xuống núi/ trái núi nào/ cũng mộng mị Mẫu Sơn/ sắc hoa nào/ cũng tái nhợt/ Layơn
Và cũng chính nhờ sự khái quát này mà thi sĩ đã vượt lên khỏi sự đa cảm thông thường của người đời, để lại một lần nữa mặc nhiên bước vào "quỹ đạo” của những người lấy Cái Đẹp làm làm mục tiêu tối thượng, làm phương tiện giúp con người hướng thiện- những người đã lấy Hoa làm một trong những thứ quan trọng để có thể đặt hết cả niềm tin vào- nói như nhà thơ Pháp A. Rimbaud: Xác thịt, cẩm thạch, hoa, Vệ nữ, ta đặt niềm tin nơi các ngươi ( Soleil et Chaire).
Nhà phê bình Văn Giá mới đây khi viết về tùy bút của Chu Văn Sơn đã nhận định chí lý: “Bộ ba tác phẩm “Angkor – những đối cực của cái đẹp”, “Sơn Đoòng”, “Kiếp tượng nhà mồ” đã vượt lên để đứng vào hàng tuyệt bút”(vanviet.info). Còn riêng tôi thì cho rằng, bài thơ “Hoa Layơn đỉnh Mẫu Sơn”, có thể coi là một tùy bút thơ, cũngchứa đựng toàn bộ hồn cốt của “người hệ lụy Đẹp” (chữ của Văn Giá) - nhà phê bình Chu Văn Sơn.
______________
2. PHẬN HOA BÊN LỀ
Tùy bút của Chu Văn Sơn
Đó là loài hoa nở vào cuối năm.
Đó là loài hoa mọc nơi cuối đất.
Đó là loài hoa đợi ở cuối đời.
1.
Khi hầu hết các loài hoa trong năm đã khoe sắc phô hương cả rồi, nó mới
nở. Nếu xem mỗi niên hoa như một dãy dằng dặc, xếp hàng đợi đến lượt nở, thì
nó đứng ở cuối hàng. Kiên nhẫn, nhún nhường, hay biết phận biết thân? Thật
khó nói. Chỉ biết khi năm hầu tàn, mùa hầu cạn, chẳng còn loài hoa nào tranh
chòi nữa, nó mới dâng hoa. Nó nở trong gió bấc mưa phùn, dưới màu mây xám
bạc của ngày đông tận. Nhưng không ai đợi nó dịp tất niên. Càng không ai chờ
nó cho tân niên. Nó là loài hoa không được chào đón.
Nó là loài hoa không biết đến hội hè. Nó không có chỗ trong các bình hoa
bày trang trọng tại những chốn cao sang. Cũng không có chỗ trong những vựa
hoa, quầy hoa, sạp hoa bày trên phố xá. Không ai đầu tư, không ai khuyến mại.
Nó không bao giờ có mặt trong danh sách những thứ hoa cần mua sắm để trang
hoàng khánh tiết cho bất cứ kì cuộc nào. Và nó cũng chẳng dám mơ được nằm
trên bàn tay tình nhân trao tặng nhau những dịp lễ lạc. Bàn tay chăm thôi còn
chả dám mong, nói gì đến bàn tay tình. Có phải bàn tay duy nhất lau được biết
đến trong đời là bàn tay cầm nắm nó khi triệt bỏ nó ?
Không có chỗ trong vườn nhà. Không bén mảng tới những hoa viên. Nó
không có căn cước tại đấy. Có ai cấp thẻ xanh để cho nó quyền cư trú tại đấy
đâu. Thảng hoặc có bóng nó vươn hoa ở góc vườn nào, thì nó chỉ được xem như
dân lậu, dân liều. Nó thường bị trục xuất trước tiên khỏi những hoa viên, hoa
uyển. Họa chăng, chỉ khi vườn đã bỏ hoang, nó mới có hi vọng. Chủ nhân chả
còn đoái hoài, các loài khác chả thèm giành giật đất nữa, thì nó mới đến mọc.
Nó rón rén mọc trên đất bỏ, đất thí. Dạng nhảy dù. Sống chui. Nó là loài hoa
vườn hoang.
Ta thường thấy nó ở bên đường. Đúng hơn, nó vẫn ở bên đường mà ta
thường không thấy. Nó không phải là địa chỉ cho những ánh mắt thưởng ngoạn
kiếm tìm. Từng đoàn xe cứ vút qua. Những ánh mắt vãng cảnh cứ rướn xa.
Nhưng điểm nhìn của dòng người thường không đặt vào nó. Nó bị lãng quên
ngay trong tầm mắt người đời. Dù ngọn hoa có đâm ngang tầm nhìn, xiên vào
nhãn giới, thì cũng thế thôi. Cả khi du khách dừng lại để chụp ảnh, ống kính
zoom qua đầu nó là để chớp lấy những cảnh hớp hồn phía xa. Về xem lại, thấy
nó lỡ có mặt trong khuôn hình ngoài ý muốn, thì bực mình. Khi in ra, người ta
cẩn thận dùng photoshop xóa nó đi, cho hết vướng. Nó là loài hoa bên đường.
Nhưng, vương quốc thực sự của nó là miền hoang, là núi đồi gò bãi. Nó là
cư dân của những miền đời quên lãng. Lãng quên, đó mới là không gian cho nó,
của nó. Một kiếp hoa chung thân chốn lãng quên. Có phải nỗi hoang vu vón lại
thành loài hoa ấy. Có phải nó là đứa con tự túc của nỗi hoang vu. Sinh ra nó để
tự khuây khỏa, khoảng trống của hoang vu có bớt đi được phần nào không, mà
giữa chốn hoang vắng, có bóng nó chập chờn, lại chỉ thấy lòng thêm hoang dại.
Nó là hoa lau.
2.
Nó là loài cỏ. Mà nào có như cỏ mật được giấu vào túi áo, cỏ gà được
chọn chơi, cỏ gừng, cỏ nhung được chăm chút trong công viên. Nó là loài cỏ bị
bỏ rơi. Người ta vẫn trông mà đâu có thấy... Mặc, lau vẫn sống đời lau. Lầm lụi
thanh bần. Lau vẫn mọc, theo cách riêng. Không riêng từng thân, mà thành từng
bụi. Khi nở thì nhất loạt, cứ tua tủa vươn lên. Mỗi ngọn như một tia phun mạnh
vào không trung. Tất cả như một chùm pháo hoa bừng sáng. Lau tự bắn pháo
hoa, tự mình hội hè lễ lạc chăng ?
Thực ra, lau là chị em của mía. Cùng một xuất thân mà hai thân phận. Mía
thành cây vườn, lau thành cỏ hoang. Chị em xa cách từ đó. Nhờ có đường, mía
thành loài có ích, được chăm chút, vồ vập. Chỉ có hoa thôi, mà lại là thứ hoa bạc
phận, lau cứ như kẻ vô ích, bị bạc đãi, thờ ơ, dù không ít đời lau được trưng thu
làm đệm. Nếu vườn mía xuất hiện cỏ lau, chủ vườn sẽ diệt lau lập tức. Người ta
gom lau thành đống, đợi khô, rồi đốt, ngay bên những luống mía. Nào ai biết
mía của phần xác, lau của phần hồn, kể cả khi đứng nhai mía bên lau.
Lau cũng nở theo cách riêng. Không bày từng cánh, không đơm từng
phiến, mà vươn từng sợi. Từng sợi nương nhau mà thành lọn, tụ lại mà thành
bông. Như bông tuyết khô. Như núm bông lẻ. Như lọn mây thất lạc thinh không,
rơi rụng khỏi bầu trời, đậu hờ trên ngọn mảnh. Nhưng bao giờ lau cũng vươn
cao nhất, cố nghển cổ lên mà nở hoa. Có lẽ trong các loài, đây là loài hoa cổ gầy
nhẳng mà vươn dài nhất. Dài đến ngất nghểu chon von. Khi toàn thân đã hết hẳn
tầm vươn, nó mới đành trổ hoa. Như để được diện kiến với trời, như để được
giao lưu với mây, díu dan với gió. Lau phải lòng mây, gió, phải lòng khoảng
không chăng ? Nhiều khi ngắm nó, tôi cứ miên man với những giả tưởng cổ tích.
Phải chăng, thuở xưa lau vốn là một cụm mây trắng út ít ? Một lần theo chúng
theo bạn xuống nhởn nhơ trần giới, rồi mải quyến luyến cây cỏ, đến lúc ngẩng
lên thì ngày đã khép, nắng đã tắt, chẳng còn kịp theo bầy mà về trời. Thế là cụm
mây út rớt lại miền hoang. Nó lìa khỏi gió. Đậu vào đầu cỏ. Mà thành hoa lau.
Từ đấy, mây út sống kiếp cỏ hoa để một đời luôn nhớ tiếc khoảng không, ngóng
vọng bầu trời. Suốt đời thèm về lại kiếp mây trắng. Mà không thể. Phải vì thế
mà những bông lau buồn nhất là lúc hoàng hôn ? Khi mặt trời khuất dần sau núi,
thu hết nắng đem đi, trên đầu mỗi bông lau chỉ còn le lói vài tia nán lại, dáng lau
mới bồn chồn làm sao. Những ánh bạc cứ tím rực lên rồi thẫm lại. Đầu bông cố
rướn lên rồi lả xuống. Xốn xang mà u uất. Lau bơ phờ rủ bờm trong hoàng hôn.
Rồi những ánh chiếu li ti cũng tắt dần trên từng sợi bạc của hoa lau, bóng tối
ngấm sâu vào cây cỏ. Đó là lúc ngày thực sự trút hơi thở tàn cuối cùng để chết
lịm vào lòng đêm. Cả chùm lau muôn sợi bạc mềm óng ánh thế, tím rực thế,
bỗng tím bầm, tím ngắt, như vẻ mặt thất thần của kẻ chợt nhận ra mình khánh
kiệt... Đón được gió mà đành buông gió. Muốn cất mình bay, mà suốt đời chỉ
đậu. Cuối cùng, lau chọn một cách bay riêng. Không toàn thể, thì từng phần.
Chẳng tưng bừng, thì lặng lẽ. Không có một chuyến chung, thì làm vô vàn
chuyến riêng. Lau cứ âm thầm xé mình ra. Đời hoa là đời của ước mơ lớn xé lẻ
thành những sợi lau con. Mỗi sợi bạc một ước mơ bay. Cứ từng sợi, từng sợi,
gửi vào gió. Mà bay. Nhung tuyết một đời tan thành từng chuyến bay như thế.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.