TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NHÀ VĂN - TÁC PHẨM: NHÀ THƠ HUY CẬN
NHÀ VĂN - TÁC PHẨM: NHÀ THƠ HUY CẬN
Từ 22/6/2016, Vanvn.net ra mắt trang Nhà văn- Tác phẩm để giới thiệu tiểu sử và tác phẩm của hơn 1000 nhà văn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhằm phục vụ nhu cầu của các nhà văn, các nhà nghiên cứu, các thầy, cô giáo và đông đảo bạn đọc yêu mến văn chương. Bichkhe.org sẽ lần lượt đăng tải các tác giả theo Vanvn.net để bạn đọc theo dõi và tham khảo.
Nhà thơ Huy Cận (nguồn: Internet)
HUY CẬN
(1919-2005)
Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 31 - 5- 1919 tại xã Ân Phú, huyện Dương Sơn, Hà Tĩnh, mất ngày 9 - 2 - 2005 tại Hà Nội. Trước khi mất ông sống tại Hà Nội, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Trước cách mạng tháng Tám, Huy Cận đi học (Tú tài, Cao đẳng Nông Lâm...) và hoạt động Văn học. Từ đầu năm 1942, vừa học Nông Lâm vừa tham gia hoạt động bí mật và làm thơ, viết văn. Cuối tháng 7-1945, tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng toàn quốc (sau mở rộng thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) và vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại. Là Bộ trưởng Canh nông và Thanh tra đặc biệt của Chính phủ lâm Thời. Từ 5-11 năm 1946 là Thứ trưởng Bộ Nội Vụ. Trong kháng chiến chống Pháp là Thứ trưởng Bộ Canh nông (12-1946 đến 7-1947) rồi Thứ trưởng Bộ Kinh tế (1947-1949). Từ 1949 đến 1955: Thứ trưởng, Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ. Từ 1955 đến 1984: Thứ trưởng Bộ Văn hoá; Từ tháng 9-1984: Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch uỷ ban Trung ương Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. Nhà thơ còn là Đại biểu Quốc hội khoá 1, 2 và 7,8. Nhà thơ Huy Cận còn là ủy viên Hội đồng chấp hành UNESCO từ 1978-1983, đồng Chủ tịch Hội đồng văn học Á Phi 1962 tại Cairo, đồng Chủ tịch Hội đồng Văn hóa thế gới 1968 ở Lahabana, ủy viên Hội đồng Pháp ngữ 1985-2000. Năm 2001 được bầu làm Viện sỹ Viện hàn lâm Thơ thế giới. Ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt I-1996).
Tác phẩm:
THƠ: Lửa thiêng (1940); Vũ trụ ca (1942); Trời mỗi ngày lại sáng (1958); Đất nở hoa (1960); Bài thơ của đời (1963); Hai bàn tay em (1967); Phù Đổng Thiên Vương (1968); Những năm 60 (1968); Cô gái Mèo (1972); Thiếu niên anh hùng họp mặt (1973); Chiến trường gần chiến trường xa (1973); Những người mẹ, những người vợ (1974); Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975); Sơn Tinh, Thuỷ Tinh (1976); Ngôi nhà giữa nắng (1978); Hạt lại gieo (1984); Tuyển tập Huy Cận tập I (1986); Chim làm ra gió (1991); Tào Phùng (1993); Thơ tình Huy Cận (1994); Marées de la Mer orientale Paris (1994); Tuyển tập Huy Cận II (1995); Thiên việt lương việt lãng (Bắc Kinh, 1959); Messages stellaires et terrestres (Canada, 1996); Thơ Huy Cận (1996).
VĂN: Tâm sự gái già (1940); Kinh cầu tự (1942); Suy nghĩ về nghệ thuật (1980 - 1982); Culture et politique république socialiste du Việt Nam. Paris (1985); Một cuộc cách mạng trong thi ca (chủ biên cùng Hà Minh Đức, 1993); Suy nghĩ về bản sắc dân tộc (1994); Các vùng văn hoá Việt Nam (chủ biên cùng Đinh Gia Khán, 1995); Culture Vietnamienne (traditionnelle et contemporaine, 1997).
THƠ HUY CẬN
BUỒN ĐÊM MƯA
Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la...
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi...
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
NGẬM NGÙI
Nắng chia nửa bãi, chiều rồi...
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau,
Em ơi! Hãy ngủ... anh hầu quạt đây.
Lòng anh mở với quạt này,
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thuỳ dương mấy bờ...
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ...
- Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi...
ĐI GIỮA ĐƯỜNG THƠM
Tặng Thạch Lam
Đường trong làng: hoa dại với mùi rơm...
Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm,
Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng.
Đất thêu nắng, bóng tre, rồi bóng phượng
Lần lượt buông màn nhẹ vướng chân lâu:
Lên bề cao hay đi xuống bề sâu?
Không biết nữa - Có chút gì làm ngợp
Trong không khí... hương với màu hoà hợp...
Một buổi trưa không biết ở nơi nào,
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao,
Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ
Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự.
Buổi trưa này xưa kia ta đã đi,
Phải cùng chăng? Lòng nhớ rõ làm chi!
Chân bên chân, hồn bên hồn, yên lặng,
Người cùng tôi đi giữa đường rải nắng,
Trí vô tư cho da thở hương tình,
Người khẽ nắm tay, tôi khẽ nghiêng mình.
Như sắp nói, nhưng mà không - khóm trúc
Vừa động lá, ta nhận vào một lúc
Cả không gian hồn hậu rất thơm tho;
Gió hương đưa mùi, dìu dịu phất phơ...
Trong cảnh lặng, vẫn đưa mùi gió thoảng...
Tri bâng quơ nghĩ thoáng nhưng buồn nhiều:
"Chân hết đường thì lòng cũng hết yêu".
Chân đang bước bỗng e dè dừng lại
- Ở giữa đường làng, mùi rơm, hoa dại....
ĐẢO
Những đảo mù khơi ai viếng thăm!
Chim con mòn mỏi cánh giam cầm
Rêu vàng nở gượng đôi hoa gió,
Không hạt phương xa đến gởi mầm
Chỉ có nghìn năm triều sóng động
Mai chiều trải lại nếp vô biên
Mây phiêu lưu cũng không ngừng bóng,
Cát nổi đòi cơn trận tủi phiền.
Tôi nhớ bân quơ những chiếc hồn
Muôn trùng biển rộng, đảo con con.
Thuyền không giao nối đây qua đó,
Vạn thuở chờ mong một cánh buồm.
1940
GẶP CHỊ ĐIÊN
Chủ nhật qua tôi gặp một người điên
Trên mặt ngây thơ nét nét dịu hiền
Lấp loáng dọi hai mắt đà mờ ảo.
Sự sống thọt, đời không tỉnh táo
Chị cầm roi nhưng nào biết đánh ai.
Các trẻ em bu quanh chị, đùa dai,
Chị vút gió rồi đứng cười rờn rợn.
Người qua phố xem lâu, cũng chán
Bỏ chị đi như chợ vãn chiều hôm.
Hỡi tâm hồn mắc cạn giữa dòng
Có phải chị còn chờ mong hướng gió ?
Ai nhìn được trong tâm hồn mờ tỏ,
Trong não cân đã loang loang lổ vùng đêm ?
Mắt chị nhìn đâu leo let ngọn đèn,
Tôi bất giác nhớ ngày nhật thực
Bóng tối ăn hoen mặt trời sáng rực.
Đời tôi đã gặp nhiều chết nhiều đau,
Đã thấy những thân người như hoa héo nhựa xàu
Sự sống khô đi như dòng nước cạn
Nhưng nói sao hết lòng tôi đau đớn
Thấy chị đứng, đi, da thịt hồng tươi
Nói năng mà như không sống nữa rồi...
Sương chiều xuống như xoá nhoà cây cỏ.
Trong mắt chị chút hồn còn mờ tỏ
Cũng dường như pha loãng biến trong sương.
Chị về đâu? Mẹ chị đến, yêu thương
Nâng đầu chị như tay già chống chọi
Với trái sắp rơi, với hồn sắp tối.
Chuyện đau thương mẹ chị kể đầu đuôi,
Chuyện gia tài xâu xé, tình nghĩa pha phôi,
Chuyện đời cũ hơi tiền làm lạnh máu...
Chị mất trí, bị "cuộc đời" lừa đảo.
Sau màn sương trắng đục mặt trời chiều
Đỏ bầm như cục máu uất ai treo,
Cả hồn chị đã tím bầm trong đó.
Tôi tưởng nghe trong hồn ai sụp đổ
Rít vang lên cả quá khứ bạo tàn
Trong buổi chiều sương trắng lạnh màu tang.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.