TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
THƠ NAM THANH - LAN TỎA TỪ TĨNH LẶNG - Tiểu luận HỒ THẾ HÀ
THƠ NAM THANH - LAN TỎA TỪ TĨNH LẶNG - Tiểu luận HỒ THẾ HÀ
NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 23 Tháng 4, 2026 lúc 13:20
Nam Thanh là nhà thơ có quá trình sáng tác thơ tuy chưa dài, nhưng đủ để ổn định, hình thành cá tính sáng tạo và giọng điệu riêng. Thơ anh được thi hữu và bạn đọc yêu quý đón nhận với niềm tin và hy vọng về nội lực thi pháp ngày càng vững chắc với cái tôi đang tư duy và điểm nhìn nghệ thuật không ngừng vận động và phát triển. Đến nay, anh đã ấn hành các tập thơ sâu nặng nỗi niềm đời tư – thế sự: Tình sen (2020), Con đường anh hái (2021), Nhắm mắt vào sẽ thấy (2023). Và bây giờ là Trong thanh lặng (2025). Thơ Nam Thanh thuộc mỹ học của cái đẹp thanh lặng và nhân bản, có sức vẫy gọi, lan tỏa.
Nhà thơ Nam Thanh
Tập thơ mới này của anh có thể xem là sự tích hợp thi pháp từ các tập thơ trước, nhưng kết tinh hơn ở ngôn từ, hình tượng, ở tính nghiệm sinh, triết mỹ về tình yêu, cuộc sống và thi ca. Xuất phát từ kinh nghiệm hiện sinh của mình, anh nhìn ra tha nhân và ngoại cảnh để thức nhận mọi hiện tượng, sự vật từ cái nhìn thực chứng và hiện tượng luận sâu sắc: “Tôi đi giữa cõi người buồn vui lẫn lộn/ Mỗi bông hoa một gương mặt con người/ Những bông hoa đơm mật ngọt cho đời/ Những bông hoa chứa nọc độc giết người”. Dù hiện thực diễn ra như thế nào thì người thơ vẫn phải đi giữa cuộc đời, giao hòa cùng niềm vui và nỗi buồn, thiện lương và độc ác, tàn phai và xanh biếc, lãng quên và hoài nhớ… để hiểu quy luật của nhân sinh, tạo vật:
Tôi thở giữa muôn sắc hương trời đất/ Nghe cây lá lặng im mà đang cất lên lời/ Hoa bừng thắm nhắc ai đừng quên lãng/ Bao vẻ đẹp hương thơm tàn độc ở trên đời – (Tiếng đất)
Từ nghiệm sinh như trên, ở tập thơ Trong thanh lặng, Nam Thanh cấu trúc các phần có tính ý hướng cụ thể, liên quan đến các cặp đối lập giữa riêng và chung giữa chủ thể và khách thể, giữa sinh thái thiên nhiên và sinh thái xã hội, tinh thần thành 3 tiêu điểm thẩm mỹ: Âm điệu tình người, Hương sắc tình hoa và Tình đất, tình người. Thật ra, ba tiêu điểm trên có liên quan mật thiết và nhân quả với nhau, nhưng Nam Thanh muốn tạm thời siêu hình trong tư duy và cảm nhận nhằm bình tĩnh và lặng lẽ nhận thức từng đối tượng, từng quan hệ để được nếm trải, thanh lọc và sau đó thông điệp đến người đọc những kinh nghiệm sống qua và dự cảm về kinh nghiệm sắp đến cho chính mình và tha nhân trên hành trình hiện thực và hành trình tâm linh sự sống đang không ngừng vận động và phát triển. Nhìn mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong thiên nhiên và môi sinh, anh biết đón nhận và yêu quý chúng đến tận cùng bản chất để “Trôi chảy mãi một dòng đời thương nhớ” trong từng cảm giác bé nhỏ:
Gió cốm thổi thu về/ Nắng thị thơm lối vắng/ Nụ cười lan ra mùi nhớ/ Vai gầy hiện ra mùa thương – (Mùa nhớ)
Từ đó, âm điệu tình người hiện lên trong liên hệ và đối sánh với từng hiện hữu và yếu tính của mỗi chủ thể và tha thể bằng cái nhìn trực quan sinh động: “Anh không rõ em bước từ hoa ra hay hoa nở thành người/ Anh chỉ thấy phút em ngồi hoa nở/ Tay em cởi mọi buồn đau dang dở/ Của kiếp hoa hay của cõi người?”. Và cứ thế, con người và thiên nhiên hiện lên tương giao, tương ái trong ánh mắt chiều thu của em cùng hương thơm và sắc vàng tươi đến ngỡ ngàng của từng bông hoa cúc: “Ánh mắt đầy vơi mùa thu về đâu?/ Em mơ gì mà nở ra mùa hoa cúc/ Hoa nghĩ gì mà mùi hương day dứt/ Trở trăn thơm trong hơi thở tháng ngày!” (Dáng cúc). Cái nhìn chiêm cảm sinh thái thiên nhiên luôn thường trực trong từng quan hệ và liên hệ của Nam Thanh để biến mọi khách thể – từ đối tượng của cái nhìn hiện thực khách quan thành cảm xúc nội tâm, cuối cùng biến thành ý thức thẩm mỹ và cảm hứng sáng tạo thi ca trong anh. Những mùa nhớ trong thơ Nam Thanh luôn được đặt trong quan hệ “thiên nhân tương đồng và tương cảm” cụ thể như thế để thành nỗi nhớ dây dưa: “Có mùa nào không là mùa thương nhớ!” như anh tự xác tín:
Tình lên xanh mùa cây/ Lòng rung đầy trời gió/ Sông có trôi được nhớ/ Biển có cạn được thương/ Chưa xa nhau mà tàn cả mùa sen…/ Một ánh mắt mà thành duyên nợ –(Mùa nhớ)
Vì vậy mà thơ Nam Thanh luôn xao động giữa nội tâm và ngoại giới trong từng ý nghĩ và cảm thức hiện sinh hoang hoải: “Thấy hẫng một bụi tóc trên vai/ Vắng một hơi ấm giữa bàn tay/ Một ánh mắt bay lơ lửng đâu đây/ Một giọng nói dính vào ý nghĩ/ Một nụ cười theo người như áo mặc/ Một tiếng khóc nén trong lồng ngực/ Khe khẽ rơi ra mà hoang hoải cả hồn người” (Ngọn gió mùa đông). Từ đó, mọi liên hệ hữu hình và vô hình hiện lên trong từng sự vật và chứng tích thời gian: “Sông chảy bao ngày sông đổ vào biển cả?/ Chim kêu bao mùa chim về cùng đôi lứa?/ Anh tìm em dằng dặc suốt cuộc đời…/ Chỉ thấy sắc hoa cô đơn/ vò võ đỏ nước trời!” (Vò võ nước trời). Ở đó, nhà thơ thấy được mọi quan hệ riêng – chung đầy ân tình và thao thức:
Nơi biển cả hóa thành dòng sông/ Nơi thiên hà bão dông anh hái được nụ cười em yên ả/ Nơi tháng ngày mới lạ lặn vào hơi ấm bàn chân/ Mắt em phủ buồn vui đầy hồn anh – (Nơi anh gặp em)
Chứng kiến một người đàn bà trong muôn vàn người đàn bà bình thường khác, anh lại nghĩ về những điều cao hơn ký ức ly tan và buồn đau choáng đầy cuộc đời muộn sầu của họ: “Người đàn bà không biết ngày đêm/ Chìm trong mối tình câm/ với người xa khuất!/ Người đàn bà không nghe được hơi thở mùa hè phảng phất/ Không nghĩ được mùa xuân đang rời chân mình ra đi/ Người đàn bà vẫn sống cùng mùa đông/ Trong ngôi nhà thùng thình huơ hoác”. Thời gian của một góa phụ giờ đây đã thành nỗi buốt nhớ qua từng cử chỉ và ngôn ngữ thân thể khát khao yêu thương và dâng hiến:
Người đàn bà tần ngần dỡ bối tóc một thời gắn bó
Dở ra cất vào!/ Dở ra cất vào ký ức ngày qua…/…..Người góa phụ ôm vai mình/ Nghe trong lòng hơi ấm một vòng tay – (Tiếng sấm chuyển mùa)
Nỗi đồng cảm ấy xuất phát từ cõi hư vô thanh lặng của chính người thơ sau bao chiêm cảm để giờ được lan tỏa trong yêu thương và nhân ái: “Người đàn bà giấu buồn, vui vào mắt/ Như dòng sông giấu thẳm sâu vào nước/ Sông nổi, chìm/ bao khúc buồn vui!/ Lòng đã yên những mưa bão, lở bồi/ Vẫn nghĩ qua mùa thu bình thản/ Là mùa đông lặng lẽ trôi!”. Nam Thanh thấy được sự hồi sinh trong mắt nhìn bối rối của người đàn bà đi qua tuổi thanh xuân bằng cái nhìn nhập vai, đồng cảm:
Người đàn bà đi quá nửa cuộc đời/ Một sớm mai gặp mùa xuân trở lại/ Mùa xuân muộn trong mắt nhìn bối rối…(Xuân muộn)
Trong nỗi niềm riêng – chung ấy, tôi muốn nhấn mạnh đến âm chủ của tập thơ Trong thanh lặng của Nam Thanh ở cạnh khía tình yêu, tình hoa, tình người và tình đất. Trước hết là tình yêu dành cho em với nhiều cung bậc và sắc thái tình cảm quyến luyến: “Tình em ngọn gió thổi/ Mùa thu mây trắng nắng tràn/ Thu trong em khao khát dịu dàng/ Men rượu ngấu nồng nàn ánh mắt/ Choàng nụ cười lên bờ vai lên mái tóc/ Mùa em níu bước chân anh!”. Em đến trong đời, anh bỗng thành người khác, thành giàu có và tin yêu để mọi bình yên thành dông bão: “Anh nghe tình em đang dâng đầy mùa xanh”, thành bốn mùa yêu ngọt ngào và mê đắm:
Em đem đến những dịu ngọt mùa xuân/ Em gọi về những nồng say mùa hạ/ Đi qua bể dâu nụ cười em ngày xanh quá/ Như sau bão giông mặt đất lại bình yên/ Như ấp ủ nắng mưa mùa thu cho trái ngọt/ Như lời em hát trên môi anh –(Mùa em)
Có em, anh không sợ mọi hiểm nguy cùng hệ lụy, dù thời gian, thiên nhiên có đổi thay và tình đời đen bạc: “Anh không sợ ngày mai biển cạn/ Khi suối sông nước ngại xa nguồn/ Anh không sợ con đường dừng lại/ Khi mắt ai nhìn/ mỏi mệt với bàn chân”. Ngay cả tháng ngày xanh trôi qua và em trót nói với anh lời từ biệt thì anh cũng bất chấp mọi thử thách, phôi phai. Vì thế nào, những kỷ niệm thuở thanh xuân cũng quay về nồng nàn như lửa: “Anh không sợ ngày xanh rời xa anh/ Khi em quay đi không ngoái đầu nhìn lại”. Duy có điều anh sợ và không thể vượt qua. Đó là khi “giọt nước mắt em rơi/ Anh không nhìn thấy” (Anh chỉ sợ). Một kiểu quan hệ tình yêu và triết lý khi yêu rất da diết của Nam Thanh. Anh luôn đặt tình yêu trong liên hệ và đối sánh với vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết của hoa sen. “Từ thẳm sâu, sen cất lên tiếng hát”, tô thêm hương sắc cho cuộc đời và cho tình yêu chung thủy:
Anh yêu cánh sen tàn anh yêu bông sen nở!/ Như yêu cuộc đời buồn vui đau khổ/ Em trong anh mềm mại dáng sen/ Sen bước ra từ bùn đen/ Rạng ngời hương sắc…/Những cánh sen dịu dàng thanh khiết/ Mơ về môi em!/ Đôi môi em nuôi những giấc mơ sen/ Nơi buồn vui nở đóa bình an/ Nơi đắng ngọt đời sen tắm trong tình người tình trời đất – (Khúc ca hoa sen)
Liên hệ và đồng nhất hoa sen với tình yêu quê hương, đất nước để càng yêu da diết bóng hình em: “Anh yêu em và anh yêu sen!/ Yêu nụ cười sen trên môi em nắng lửa/ Yêu hương em!/ Sen thơm từng hơi thở/ Yêu dáng em mềm trong dáng sen”. Tình sen lan tỏa trong mỗi lòng người: “Quê hương mình có bao nhiêu đầm sen/ Trong lòng người biết bao mùa sen nở!/ Ai dâng tình sen lên đôi má/ Ai nhập hồn sen vào đôi môi/ Ai đưa buồn vui sen lên đôi mắt/ Ai đem hương sen nuôi dài mái tóc/ Mùa đã về tình em có như sen?” (Tình sen). Những đóa sen tươi là mỗi gương mặt quyến rũ, thánh thiện. Sen tồn tại và sinh thành từ gian lao, bùn đất mà thanh cao, tươi xanh và siêu thoát đến dường kia:
Nếu không phải từ bùn đen sen đâu thắm tươi đến thế/ Nếu không mọc bùn sâu sen đâu ngát thơm đến thế/ Nếu không vượt từ bùn tối/ Sen đâu siêu thoát thế nụ cười…
Hoa sen cần cho cõi người hơn là cần cho chính nó. Vì vậy, sen luôn lặng lẽ tái sinh những mùa thơm ngọt ngào, tươi thắm. Sen trọn đời chỉ biết hồn nhiên dâng hiến: “Sen sống trọn đời sen/ Làm nụ cười mát thơm mùa hạ/ Lắng hồn quê hồn người qua dâu bể/ Thơm bình an trong cõi đất cõi trời” (Đời sen).
Nam Thanh là nhà thơ yêu thiên nhiên và cảnh vật bằng cảm quan sinh thái.Trong mắt anh thiên nhiên hòa quyện với sinh thái văn hóa – tinh thần sâu sắc để mong mọi chủ thể và khách thể được điều bình và an trú trong những không gian tự do và khát vọng. Trong thơ anh, những loài hoa luôn hiện hữu và gắn bó, tương hợp với con người trong từng ý nghĩ và rung cảm bé nhỏ. Hoa sen, hoa sưa, hoa gạo, hoa phượng, hoa cúc, hoa quỳnh, hoa dã quỳ… xuất hiện với tần suất cao chính là cái nhìn nhân bản và đạo đức mà anh dành cho thiên nhiên, hoa cỏ. Xuất phát từ tâm hồn đa cảm và nhân ái của anh, các loài hoa luôn gắn với mỗi thời tính, tâm trạng với ý nghĩa khác nhau: “Những mùa hoa mệt mỏi vui buồn/ Bao hò hẹn, bao chia tan mùa phượng thắm/ Bao câu hát tiếng cười dán lên ngày tháng/ Giọt mồ hôi rơi dòng nước mắt trôi” (Phượng hát). Mỗi loài hoa cho anh mỗi thức nhận và quan hệ nhân sinh cụ thể:
Hoa sưa gợi về những tháng năm nhung nhớ:/ Giờ hoa sưa lại rơi trắng mái đầu/ Trắng ngọn gió, trắng tháng năm nhung nhớ – (Hoa vẫn đợi em)
Hoa gạo hiện về đỏ tươi giấc mơ thời trai trẻ:
Hoa gạo cháy đỏ trời/ Trả lại giấc mơ thời thơ trẻ – (Hoa gạo)
Với hoa sen cho tay em thơm hương và nụ cười dịu nhẹ:
Anh nghe sen thở trong đầm/ Thấy sen nở nụ cười trong nắng lửa/ Thoảng lá sen hương bàn tay em – (Sen hay em đến cầm tay)
Và đây là hoa quỳnh run rẩy trong phút thoáng mở cánh nguyên trinh:
Cây chắt lọc tự đất trời mưa nắng/ Làm lên phút chuyển rung cả hoa lá thân cành/ Phút sinh nở trong đớn đau, vật vã/ Phút hạnh phúc đắm mê!/ Phút mãn khai hoàn mỹ!/ Phút thanh cao kiêu hãnh của đời hoa – (Hạnh phúc)
Còn đây là hoa dã quỳ ẩn hiện mặt người, mặt hoa mê luyến:
Nơi sắc hoa ẩn hiện những mặt người/ Anh chìm đắm trong mùi hương mê dại/ Trong sắc vàng ngây ngất ngàn cây/ Trong vẻ đẹp bàng hoàng, tê tái/ Dã quỳ dẫn bao lứa đôi về gặp lại/ Sau bao năm lạc nhau giữa cõi người- (Chiều dã quỳ)
Có thể nói, mỗi loài hoa là mỗi quan hệ nhân sinh mà Nam Thanh đã tinh tế nhận ra để làm giàu kinh nghiệm sống và và truyền sang cho người đọc sự đồng cảm, sẻ chia bất ngờ và mới lạ.
Tiếp cận toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ Nam Thanh, bên cạnh chủ đề tình yêu, tình hoa như vừa tìm hiểu, người đọc còn nhận ra tình đất, tình người sâu nặng trong từng quan hệ sống của chủ thể sáng tạo. Trong từng ký ức không gian và thời gian ấy, thơ Nam Thanh phản ánh chân thật hành trình ra đi và hành trình trở về của chính mình môt cách xúc động và tình nghĩa. Qua đó, anh được giàu có và tin yêu để tiếp tục mộng mơ và an bằng tâm thế trước bao biến thiên và phức tạp của dòng đời và tình người không ngừng “đập vào anh muôn ngàn lớp sóng” (Chế Lan Viên).
Hành trình ra đi và hành trình trở về trong ý thức thường trực của Nam Thanh chính là cố hương, nơi chôn nhau cắt rốn – nơi hồn người, hồn quê và tình quê hiện về trong buốt tê, day dứt mà cụ thể và thiêng liêng nhất là hình bóng Mẹ nơi âm dương hai ngả: “Mẹ nằm đó gối đầu lên tiếng sóng/ Có dòng sông bầu bạn sớm hôm/ Có con nước thầm thì/ Có vầng trăng lên xuống/ Mẹ nằm đó!/ Ngày về xanh trên mộ!/ Nấm cỏ thành quê sương khói bốn mùa/ Con đường dài rợp bóng mẹ một đời qua!/ Dòng sông chảy về trời/ trong hình dáng mẹ!”. Quê hương, cảnh vật vẫn còn đây mà bóng Mẹ đã vợi xa trong trùng trùng thương nhớ. Các con trên cõi đời đành vĩnh viễn cách xa, ngậm ngùi nhận phúc âm từ Mẹ: “Mưa nắng trôi đời người ra biển cả/ Để lại tháng năm dâu bể lở bồi/ Mẹ đã lênh đênh suốt một kiếp người/ Mẹ chiu chắt từng tiếng cười trong nổi chìm dòng nước mắt/ Hai tay trắng!/ Mẹ về với đất!/ Chỉ còn các con mẹ để lại cho đời…” (Mẹ).
Từ quê hương với người thân và ký ức bóng mùa qua, nhà thơ mở rộng lòng mình, liên hệ và thao thức về những miền quê mà anh từng đến, yêu thương và gắn bó sâu nặng. Những miền địa – văn hóa đó đã làm sống lại trong anh những trầm tích và hiển minh, khiến anh không ngừng thao thức nghĩ về những kinh nghiệm lịch sử và giá trị văn hoá trong quá khứ bằng cái nhìn thực chứng trong hiện tại để khẳng định chân lý và và vẻ đẹp của mỗi vùng quê. Lượng thông tin tâm hồn mà anh cảm nhận được từ những miền quê, những di tích, thắng cảnh trong nước và thế giới được anh thể hiện bằng tiếng nói thi ca giàu tính luận lý, triết mỹ.
Đến Cà Mau nợi địa đầu phương Nam của Tổ quốc, Nam Thanh nghĩ về những vui buồn gian khó trong quá khứ mở đất của cha ông để đồng cảm những vui buồn nguồn cội: “Ở nơi này tận cùng đất phương Nam/ Nơi bão gió theo chân người đi mở đất/ Nơi máu mồ hôi reo xanh rừng ngập mặn/ Nơi buồn vui nâng mỗi bước chân người” (Trời biển Cà Mau). Từ đó, anh liên hệ đến những người con gái nơi đây với giọng hò mênh mang sông nước, làm xao động cả miệt vườn xanh tươi cây trái dọc triền sông: “Một câu hò chìm nổi mặt sông/ Một buổi chiều bập bềnh trong khúc hát/ Một đời người lênh đênh mây nước/ Một nụ cười sống chết với dòng sông”. Nhà thơ đồng cảm và nhập hồn vào cảnh vật để “Gặp tấm lòng người con gái đất phương nam!” qua từng nỗi niềm và thân phận:
Sông dãi dầu trôi mưa nắng tháng năm/ Trôi phận người buồn vui trôi tiếng cười giọng hát/ Anh gói cả dòng sông vào đôi mắt/ Để ngày ngày được gặp nụ cười em – (Người con gái đất Phương Nam)
Từ phương Nam, anh ngược về với Huế- kinh đô một thời, giờ thành cố đô trầm mặc và cổ kính. Biết bao tao nhân mặc khách đến Huế và làm thơ hay về Huế, nhưng với Nam Thanh, anh cũng săn tìm vẻ đẹp Huế từ cận cảnh sông Hương và cầu Trường Tiền nhưng với liên hệ bất ngờ: “Từ bao giờ sông Hương uống anh/ Để một đời anh buồn vui với Huế/ Từ khi nào nét mi cong Trường Tiền chớp mở/ Cho mắt ai nhìn trôi Huế vào anh”. Trường Tiền là nét mi cong thành mắt người thiếu nữ nhìn trôi Huế vào anh là liên tưởng bất ngờ và độc đáo. Anh say Huế trong từng quan hệ và cổ mẫu (archétypes), biến chúng thành đôi mắt Huế, đôi mắt em rót đầy vào anh thiên nhiên và nghệ thuật:
Ai rót hồn Huế đầy anh chiều Nam Bình Nam Ai em ngân lên khúc hát/ Núi Ngự Bình ngọn bút/ Nhúng xuống sông Hương phất lên trời xanh bức tranh thủy mặc/ Phu Văn Lâu con mắt/ Ngàn năm nhớ thương ai/ Ôi mắt Huế minh mang tình đất tình người/ Mắt thông xanh mắt đền đài mắt sông dài chảy Hương Giang/ vào bát ngát/ Lợp nón bài thơ bằng vẻ đẹp Huế mộng mơ/ Thả vào lòng người nỗi díu dan câu hò mái nhì mái đẩy/ Rót vào cơn mưa Huế những đêm buồn
Những hình tượng Huế được nhân hóa và ẩn dụ để thành những thực thể/ sinh thể có linh hồn và cảm xúc là cái nhìn nhân ái của Nam Thanh, khiến Huế thành đôi mắt đẹp, buồn và trong suốt như vầng trăng soi vào dòng Hương trong đêm huyền hoặc hòa vào tiếng chuông Thiên Mụ ngân xa trong mù sương, mộng ảo:
Anh lạc trong mắt em Hương Giang! Mắt em mắt Huế!/ Anh dạt trôi giữa dòng đời mưa gió/ Dáng ai đưa anh về nét thanh lịch Huế thơ…/ Anh nghe Huế trầm luân siêu thoát trong/ tiếng chuông Thiên Mụ tỏ mờ/ Mắt Huế ngấn cười qua ngàn đời dâu bể/ Bình an buông mộng mơ đôi mắt Huế/ Xanh cỏ cây sông núi đất cố đô… (Mắt Huế)
Cảm quan thiên nhiên trong thơ Nam Thắng luôn được nhìn ngắm và cắt nghĩa bằng cái nhìn nhân văn
Cảm quan thiên nhiên trong thơ Nam Thắng luôn được nhìn ngắm và cắt nghĩa bằng cái nhìn nhân văn, tương hợp với con người và do con người làm chủ trong khát vọng điều bình sinh thái để cùng hài hòa phát triển trong ngôi nhà xanh vĩnh cửu. Đến Hạ Long, anh nhìn đâu cũng xôn xao, lay động. Cảnh và người đang tương hợp, tương giao và tương sinh, tương ái: “Sương như sữa ấp ôm đảo nhỏ/ Mẹ Hạ Long bồng bế ngàn con/ Biển mênh mông đôi mắt em/ Đang mở ra cho rồng bay xuống/ Những đảo đá gióng lên trời xanh muôn hồi trống/ Xốn xao sóng nước mây trời”. Và tự bao giờ Hạ Long đã là nỗi nhớ trong hiện thực và cả trong mơ để anh được thao thức cùng em, cùng nỗi niềm bể dâu năm tháng:
Khi Hạ Long đã hóa thành em/ Có tấc biển tấc trời nào không yêu thương như da thịt/ Mỗi mẩu đá lá cây cũng nặng tình đất nước/ Mỗi hạt cát dấu chân cũng hóa quê hương! – (Hương Hạ Long)
Tôi ấn tượng với cách khái quát của Nam Thanh về hình ảnh Đôi mắt/ Ánh mắt vừa hiện thực, vừa nhân hóa – biểu tượng để anh tâm sự và đối thoại với cảnh vật và với chính lòng mình. Hãy cùng anh trôi trong văn hóa Kinh Bắc qua ánh mắt đa tình và lãng mạn của em: “Ánh mắt ai trôi anh về Kinh Bắc/ Nghe sông Cầu hóa thành khúc hát/ Sông Đuống chảy nét cọ xanh bức tranh quê/ Đồng bãi lúa ngô thôn xóm bốn mùa”. Cả một vùng quê Kinh Bắc hiện về trong thực và mộng: “Mùa thu neo vào Kinh Bắc/ Nghe quan họ hát khúc nắng mưa/ Câu quan họ dập dìu ánh mắt/ Có sông Cầu chảy qua mái tóc/ Có sông Đuống khóc cười trong lồng ngực/ Có tháng năm vui buồn trong mỗi ngón tay em”. Chỉ ánh mắt em là chiếc cầu giao duyên, nụ cười em là “mùa thu tỏa nắng” trong tâm hồn chàng trai đa cảm là anh: “Uống một canh quan họ/ Mà suốt đời say nhau”, suốt một đời neo buộc:
Muốn giang tay ôm Kinh Bắc vào lòng/ Nồng nàn hôn lên sông Cầu sông Đuống/ Thu Kinh Bắc mặn mà duyên dáng/ Hồn anh neo ở sông Đuống sông Cầu – (Mùa thu Kinh Bắc)
Qua Tuyên Quang trong mùa xanh bất tận của những đồi chè, rừng cọ, anh say nhìn vẻ đẹp em trong đắm say, mê ảo “Những đồi chè xòe ô trong nắng/ Hàng cọ buông những chấm xanh/ Em thả những bước chân/ Gót hồng tóc đen da trắng/ Môi cười sóng sánh say!/ Anh đi suốt một ngày không đi hết ánh mắt em!/ Anh đi cả một đời không ra khỏi nụ cười em!” (Qua Tuyên Quang). Những dấu cảm thán liên tiếp sau mỗi câu thơ tự nó đã mang nghĩa bất ngờ của một hồn thơ trữ tình, đam luyến.
Nam Thanh luôn nhìn sự vật không tĩnh vật. Mọi đối tượng luôn được anh nhìn ngắm và chiếm lĩnh bằng cái nhìn vận động và biện chứng để thức nhận về những điều cao hơn, sâu hơn chính chúng; qua đó, anh thao thức về quá khứ và hiện tại bằng tấm lòng nặng sâu của con người hậu thế. Anh chiêm ngưỡng Hà Nội – Thăng Long bằng tiếng đàn em bay lên cùng dập dồn sóng nước Hồng Hà gió nổi và bao cảnh vật hữu tình, quyến rũ để lắng nghe hồn thiêng sông núi: “Hồ Tây khói sương bảng lảng nụ cười/ Hồ Gươm ngước xanh ánh nhìn đất trời/ Lắng lịch sử ngàn năm vào con mắt/ Rùa ngậm kiếm nổi lên mặt nước/ Rồng thiêng bay trên sóng Hồng Hà”. Từ đó, lịch sử hiện về cùng tiếng đàn ngân vang, dìu dặt. Thăng Long – Hà Nội mãi mãi dáng rồng thiêng soi bóng xuống Hồng Hà thắm đỏ:
Tiếng đàn nổi chìm những thăng trầm lịch sử/ Bao bão dông bay ra từ bàn tay nhỏ/ Bao thế kỷ về đây hội ngộ/ Cổ kim buồn vui chảy trong dòng máu đỏ/ Nuôi lớn mảnh đất này…(Tiếng đàn Thăng Long)
Thơ Nam Thanh luôn có cái nhìn xoáy sâu vào hiện tượng, sự vật để phát hiện những tiềm ẩn bên trong; từ đó, đúc rút những điều mới mẻ cho cuộc sống. Qua đó, anh muốn thi ca trở thành cứu cánh, thành bản giao hưởng về thời gian và dòng chảy ký ức mà anh nếm trải trong hiện thực để thành hình tượng thơ, ngôn từ thơ. Anh cảm nhận được ngọn lửa sống, lửa yêu và khát vọng sinh sôi nảy nở của con người và tuổi trẻ vùng cao trong những điệu xòe: “Điệu xòe không phải lửa nhen/ Mà chạm tay em thấy lửa/ Xòe đưa cây vào mùa quả/ Xòe đưa người vào mùa yêu” (Đưa người vào mùa yêu). Nhìn cát, anh thấy được mồ hôi và máu người kết tinh thành sự sống, thành hồn đất đai lan chảy: “Trên cát trụi trần nắng rang gió đốt/ Đâu mồ hôi cát đâu mồ hôi người/ Đâu máu cát đâu máu người trộn lẫn/ Sâu trong cát rì rầm năm tháng/ Hồn đất đai lan chảy không ngừng/ Trải ngàn năm! Vạn năm…/ Cát vẫn cát mà xương rồng thành thanh long dịu mát/ Bụi cây hoang nở hoa thơm trái ngọt/ Cát trụi trần thành quê hương đất nước/ Cát rời bờ hóa đảo phía khơi xa…” (Cát hành)
Nhà văn Hồ Thế Hà, tác giả bài viết
Còn rất nhiều những câu thơ, khổ thơ và bài thơ nói về tình yêu và đời tư – thế sự sâu sắc, giàu nghiệm sinh, triết lý được Nam Thanh thể hiện bằng kinh nghiệm và sự sống thật của chính mình nên chân thành và chân cảm. Một hồn thơ như thế làm sao mà vắng người yêu quý, cảm thông. Rất tiếc trong khuôn khổ bài viết này, tôi khó có điều kiện đi sâu vào phân tích một cách thỏa đáng. nhất là về bình diện hình thức tác phẩm như ngôn ngữ, giọng điệu, nhạc tính và các biện pháp tu từ đặc sắc trong thơ anh. Mỗi bạn đọc khi tiếp nhận thơ anh sẽ tự mình nhận ra vẻ đẹp đó.
Qua tập thơ Trong thanh lặng, Nam Thanh đã thật sự làm chủ thể loại và đã thành công trong việc chiếm lĩnh và cắt nghĩa hiện thực đời sống một cách cụ thể, sinh động và triết mỹ. Các tiêu điểm thẩm mỹ của tập thơ qua tình yêu, tình hoa, tình người và tình đất được anh thể hiện thành tiếng nói thi ca chân thành, chân cảm. Trên hành trình đi tìm thời gian và khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên và truy tìm bản thể cuộc sống ấy, Nam Thanh được giàu có và tin yêu hơn vào chính mình và nghệ thuật. Thơ anh lắng sâu và nồng ấm, thanh lặng và lan tỏa như những đóa hoa sen âm thầm lớn lên từ bùn đất mà thơm hương, thắm sắc, lay động lòng người. Con đường thơ là vô cùng, vô tận, với thơ, anh luôn phải nỗ lực vượt qua mọi thử thách, gian khổ, không ngừng tư duy để sáng tạo nên những bài thơ hay theo tinh thần thể hiện Cái mới và Cái khác, phù hợp yêu cầu và tầm đón đợi của chính mình và chính bạn đọc thời hiện đại và đương đại.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.