TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH - NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG TƯ DUY THỂ LOẠI
TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH - NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG TƯ DUY THỂ LOẠI
LÊ DỤC TÚ
Khảo sát truyện ngắn về đề tài chiến tranh từ sau Đổi mới, dễ dàng nhận thấy, cùng với sự phát triển của văn xuôi đương đại, truyện ngắn viết về mảng đề tài này cũng đã có những thay đổi căn bản về nội dung phản ánh và hình thức thể hiện - một sự thay đổi tất yếu khi mà tinh thần của thời đại đã thay đổi, khi mà cảm hứng sử thi đã được thay thế bằng tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân, khi mà người nghệ sĩ ý thức được “không thể viết như cũ”. Bởi vậy, nếu truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh trong thời kỳ chống Pháp và chống Mĩ hướng vào những vấn đề vĩ mô khi tập trung phản ánh số phận của cả một dân tộc để giải quyết vấn đề mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc trên tinh thần khẳng định, ngợi ca và xây dựng những nhân vật lí tưởng mang tầm vóc đại diện cho cộng đồng thì truyện ngắn thời hậu chiến lại chỉ hướng vào những vấn đề vi mô khi quan tâm nhận diện những số phận cá nhân và xây dựng những nhân vật cá thể đại diện cho chính nó. Nhà văn soi ngắm những số phận cá nhân để từ đó khái quát những vấn đề nhân thế. Bôrit Vaxiliep - nhà văn Xôviết, người đã sống ở một đất nước có cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đã từng viết rằng: “Những cuộc chiến tranh có bắt đầu nhưng chắng có kết thúc. Nó dai dẳng trên nước mắt những người vợ góa, người mẹ, nỗi buồn của trẻ mồ côi, tiếng rên rỉ của người lính bị thương. Những vết thương trên mặt đất biến dần, bãi chiến trường xưa thay bằng những luống cày mới, nhưng rất lâu, rất lâu trong mẩu bánh vẫn lưu lại mùi vị chua của bụi đất và thương đau” (Văn hóa và đời sống, số 6/1980). Chiến tranh rồi sẽ qua đi nhưng di chứng của nó hằn lên số phận của những con người đã đi qua cuộc chiến thì vẫn còn nhức nhối mãi. Những số phận cá nhân mà truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh thời hậu chiến quan tâm thể hiện nhiều nhất có lẽ là số phận người lính và người phụ nữ thời hậu chiến. Số phận người lính thời hậu chiến Ở bất cứ cuộc chiến tranh nào, hình tượng con người trung tâm không thể ai khác là hình tượng người lính. Hình ảnh “anh bộ đội Cụ Hồ” với những nét đẹp lí tưởng của người chiến binh dũng cảm quên mình xả thân vì nền độc lập tự do của Tổ quốc - Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng - để lại một dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ đã in một dấu ấn đậm nét trong văn học chống Pháp và chống Mĩ. Đó là hình ảnh đại diện cho sức mạnh ý chí và sức sống của cả một dân tộc khi đất nước trong cơn binh lửa thời trận mạc. Chiến tranh qua đi, người lính - những con người dù xuất thân từ anh nông dân hay người trí thức đều hoan hỉ được rời tay súng để đón nhận cuộc sống thời bình trong tâm thế tràn đầy niềm tin về một cuộc sống mới. Họ sẽ cùng dân tộc gánh vác một trọng trách mới khi đất nước bước vào thời kỳ tái thiết và đổi mới sau nhiều năm chìm trong khói lửa chiến tranh. Hình ảnh của họ như thế nào trong cuộc sống thời bình? Nếu trong tiểu thuyết, với dung lượng đặc trưng của thể loại, hình ảnh người lính thường được mô tả ở cả hai chặng đời, trong và sau chiến tranh, thì ở truyện ngắn, với đặc điểm của thể loại là “một lát cắt của hiện thực”, hình ảnh này thường được khai thác nhiều ở chặng sau chiến tranh, trong tư thế của người trở về. Người lính, tưởng được thanh thản mà lại tròng trành chao đảo khi phải đối mặt với những sự thật ở cuộc sống mới. Sau niềm vui bất tận của vầng hào quang sáng chói thời trận mạc, người lính thực sự bừng tỉnh bởi những khắc nghiệt của cuộc sống thường ngày. Bi kịch đầu tiên mà họ phải đối mặt là bi kịch “lạc thời”. Cô đơn giữa con người và lạc lõng trước thời cuộc. Từ chiến trận trở về, những người lính thấy mình bơ vơ giữa ốc đảo của cuộc sống thường nhật dù họ đang sống chính trên mảnh đất đã thấm máu của mình và xung quanh họ vẫn là những người thân. Những người lính đã từng cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình cho quân ngũ, đã từng giữ vai trò chủ chốt trong cả một chặng đường lịch sử, giờ không thể hòa nhập được sự bon chen của cuộc sống đời thường. Những thương tổn về thể xác của họ trong chiến tranh dường như không thấm vào đâu so với những thương tổn rướm máu trong tâm hồn khi họ mất đi tất cả: người yêu, gia đình, bè bạn... Những người lính đã ứng xử thế nào với cuộc sống hiện tại? Với những người vẫn giữ vững nhân cách sống của mình, họ bị rơi vào bi kịch. Ở Việt Nam, Nguyễn Huy Thiệp có lẽ là người đầu tiên gióng lên hồi chuông nhức nhối của bi kịch này qua hình tượng ông tướng Thuấn trong Tướng về hưu. Việc tướng Thuấn đã trở về yên lành từ trận mạc rồi để chết ở cái tuổi ngoài 70 vì không chịu nổi sự tàn nhẫn đến lạnh lùng trong hành động của cô con dâu và những tính toán sặc mùi vật chất của lũ con trước cái chết của người vợ, là một minh chứng sinh động về nỗi đau không thể nói bằng lời. Khi tướng Thuấn thốt lên “Sao tôi cứ như lạc loài” thì người đọc đã có thể cảm nhận hết được nỗi cô đơn thăm thẳm của người lính già giữa dòng đời ồn ã tấp nập. Sau Nguyễn Huy Thiệp hàng loạt những cây bút khác cũng lên tiếng về bi kịch cô đơn này như Ma Văn Kháng (Ngày đẹp trời), Võ Thị Hảo (Biển cứu rỗi), Sương Nguyệt Minh (Chuyện gia đình bạn tôi, Bản kháng án bằng văn), Xuân Thiều (Xin đừng gõ cửa), Đỗ Chu (Mảnh vườn xưa hoang vắng), Y Ban (Điều ấy bây giờ con mới hiểu, Bản lí lịch tự thuật), Nguyễn Ngọc Tư (Vết chim trời), Vũ Bão (Bóng ma đói quê hương)... Nhân vật Thông trong Bản lí lịch tự thuật (Y Ban) đã bỏ lại gánh nặng con cái, gia đình cho người vợ trẻ xung phong vào chiến tường, chiến đấu gấp mấy trăm lần bằng cả sức lực và tài năng chuyên môn. Trở về, anh vẫn mong mỏi cống hiến hết mình nhưng cái anh nhận được là sự thờ ơ đến mức lạnh lùng ở cả những đồng nghiệp lẫn những đứa con. Anh đã ngã gục bởi cú sốc tâm lí nặng nề trước sự đảo điên của tình người, tình đồng nghiệp để rồi phải mang trong mình căn bệnh trầm cảm nặng, suốt ngày quay mặt vào tường vì “sợ ánh sáng, sợ nhìn đối diện vào cuộc sống, sợ nhìn đối diện vào người thân và bạn bè”. Người lính trong Ngày đẹp trời của Ma Văn Kháng trở về chỉ ước mong duy nhất là gặp lại người con gái mình yêu tha thiết lúc ra đi thì người con gái ấy đã lấy chồng - mà lại lấy người đàn ông luôn đối nghịch với anh... Bi kịch hơn, người lính tên Châu trong Bóng ma đói quê hương (Vũ Bão) trở về quê nhà bằng xương bằng thịt hẳn hoi sau hai mươi năm xa cách mà lại phải chấp nhận sống vật vờ như một bóng ma bởi xương cốt của anh đã được xã chi kinh phí tìm về và chôn ở nghĩa trang liệt sĩ, vợ anh đã được xã dựng nhà tình nghĩa, con anh đã được đi lao động ở nước ngoài, anh không thể làm đảo lộn mọi thứ đã an bài, anh không thể gây khó dễ cho mọi người bởi sự trở về của mình. Còn người lính trong Vết chim trời của Nguyễn Ngọc Tư lại có một nỗi cô đơn - nỗi oan không thể biện minh khi hết chiến tranh trở về má anh đã ngày đêm dằn vặt anh bởi cho rằng chính anh là kẻ đã bắn người em trai ở bên kia chiến tuyến trong lần giáp trận. Anh cô đơn trong chính căn nhà của mình khi hàng ngày phải đối diện với tiếng khóc hờ bởi nỗi đau mất con của má và nỗi đau mất cha của cháu. Hình tượng những người lính cô đơn như thế cũng đã trở thành mẫu nhân vật cô đơn điển hình trong văn học thời kỳ này, bổ sung và làm phong phú thêm loại hình nhân vật trong văn xuôi đương đại. Hình tượng người lính trong văn xuôi sau Đổi mới được các nhà văn khai thác trên nhiều bình diện nhưng được chú ý hơn ở trạng thái tồn tại và nhân cách đạo đức. Bên cạnh những người lính vẫn giữ được phẩm chất, nhân cách của mình trong cuộc sống thời mở cửa được các nhà văn trân trọng, ngợi ca trong các truyện ngắn Người bạn lính của Nguyễn Quang Sáng, Bạn bè sau chiến tranh của Đức Hậu, Cỏ hát của Ly Lan, Trại bảy chú lùn của Bảo Ninh, Bên đường chiến tranh của Nguyễn Minh Châu, Ngày bình thường của Phạm Hoa... là chân dung những người lính bị tha hóa trước sức cám dỗ của cuộc sống hưởng lạc. Hình tượng lí tưởng về người lính bắt đầu có sự “xô lệch” ngay từ thời kỳ đầu của văn chương đổi mới với Bức tranh của Nguyễn Minh Châu và Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi. Trong hai tác phẩm này các nhà văn đã cho thấy cuộc sống luôn có ngoại lệ và chứa vô vàn ẩn số. Những người lính - những anh hùng trận mạc, những mẫu hình lí tưởng một thời - cũng chỉ là một con người bình thường như bao người khác. Họ cũng đầy khiếm khuyết. Có lẽ không ai có thể ngờ rằng người vinh dự được cắm lá cờ quyết thắng trên nóc bốt Chè năm nào trong bức ảnh treo ở phòng truyền thống của sư đoàn lại là người đã “sợ đến vãi cả linh hồn và nằm bẹp” trước sự dũng cảm và ngoan cường của đồng đội trong trận đánh ngày ấy. Bức ảnh chỉ là cảnh diễn lại theo yêu cầu của nhà làm phim nước ngoài, khi thấy Vĩnh cao to đẹp trai đã chọn anh làm mẫu (Người vãi linh hồn - Vũ Bão). Những người anh hùng trong trận mạc hôm nào, sống trong hòa bình chưa lâu, họ đã lập tức lãng quên quá khứ, lãng quên nghĩa tình đồng đội, vô ơn và bội bạc với người thân, ươn hèn và ích kỷ trong tình yêu. Những khiếm khuyết này trong bức chân dung về người lính như một chủ đề được một số nhà văn khai thác trong cả tiểu thuyết và truyện ngắn trên tinh thần của cảm hứng phê phán. Nhân vật Lê Mãnh trong truyện ngắn Nanh sấu của Sương Nguyệt Minh từng là một người lính can trường, đầy ắp chiến công, từng sẵn sàng đầm thân thể xuống lòng sông để đánh giặc. Nhưng khi về sống trong thời bình ông đã bị tha hóa, trở thành một vị đạo diễn sa đọa, quên quá khứ hào hùng và rời xa cả những người thân. Lê Mãnh không chỉ quan hệ với những cô gái đáng tuổi con mình mà còn dùng cả những kỷ vật thiêng liêng thời chiến trận để giải nguy trong những cuộc mây mưa. Khác với Lê Mãnh, sự biến chất của nhân vật Sơn trong truyện ngắn Khoảnh khắc của Phạm Ngọc Tiến lại hết sức đau xót. Trong chiến trận, Sơn đã từng đem tính mạng của mình giải cứu cho đồng đội. Sau khi rời quân ngũ, Sơn làm bảo vệ ở một kho cảng. Ở vị trí này Sơn mới biết đội bảo vệ là đồng phạm của bọn ăn cắp. Không chấp nhận kiểu sống đó, Sơn đã bị ăn đòn và bị thải hồi. Để trả thù đời Sơn đã quyết định kiếm tiền bằng mọi giá kể cả việc đưa người đi vượt biên rồi bị bắt vào tù. Ra tù với số vàng cất giữ được Sơn tiếp tục trở thành ông chủ của xã hội đen. Vợ chồng Sơn nhiều tiền nhưng luôn phải sống trong bi kịch bởi hàng ngày phải chứng kiến “sự thù hận và chém giết” diễn ra quanh mình. Nếu sự biến chất của Lê Mãnh và Sơn hiện ra ở bề nổi thì sự biến chất của Toàn trong Mùa trái cóc ở miền Nam của Nguyễn Minh Châu tưởng chừng như không ai biết nhưng lại nhức nhối hơn rất nhiều. Toàn - một chỉ huy của tiểu đoàn, vì địa vị và quyền lực của mình đã tỏ ra thờ ơ lạnh lùng và coi khinh người mẹ đã sinh thành ra mình khi biết bà (cũng vì hoàn cảnh) đã đi bước nữa, lấy chồng ở bên kia chiến tuyến. Hình ảnh người mẹ cuối tác phẩm đi ăn mày thiên hạ để tự trừng phạt mình vì đã sinh ra một đứa con tội lỗi liệu có làm thức tỉnh Toàn? Những người lính trong sáng, lí tưởng ngày xưa giờ đã biến chất, sa ngã một cách thảm hại khi họ từ “bầu không khí vô trùng” (Niculin) bước vào cuộc đời nhiều bụi bặm, không giữ được mình trước sức cám dỗ của tâm lí hưởng lạc. Với sự khám phá những mặt “rắn rết” trong hình tượng “rồng phượng”, các cây bút truyện ngắn về đề tài chiến tranh đã chính thức “giải sử thi” và “giải thiêng huyền thoại”. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc văn học hôm nay đã khước từ lối xây dựng nhân vật lí tưởng hóa của văn học thời kỳ trước để xây dựng những mẫu nhân vật đa dạng của nền văn học mới. Đó là những nhân vật gần gũi với đời thường hơn và cũng giàu sức thuyết phục hơn. Với những nhân vật này, truyện ngắn về đề tài chiến tranh cũng góp phần khẳng định thêm một mẫu nhân vật mới xuất hiện trong văn xuôi sau Đổi mới: nhân vật tha hóa. Số phận người phụ nữ thời hậu chiến Ngoài nhân vật người lính, nhân vật thứ hai mà truyện ngắn viết về chiến tranh thời hậu chiến hướng đến là số phận người phụ nữ - những “tội nhân” của hoàn cảnh chiến tranh. Chiến tranh qua đi, nhưng những mất mát mà dân tộc ta phải gánh chịu thì nhiều năm sau vẫn còn đó. Không chỉ trên những luống cày còn đọng lại mùi thuốc súng mà nhức nhối và dai dẳng hơn là trên nước mắt những phụ nữ, người vợ, người mẹ - những người phải gánh chịu nhiều nhất những thương tổn của chiến tranh. Những thương tổn không nói bằng lời. Khi Tổ quốc lâm nguy, cùng với cả dân tộc, những người con gái đã lên đường ra mặt trận, cống hiến tuổi xuân của mình cho đất nước. Đọc Truyền thuyết Quán Tiên của Xuân Thiều, Họ đã trở thành đàn ông của Phạm Ngọc Tiến, Thời gian của Cao Duy Thảo, Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, Đốm lửa của Nguyễn Thị Minh Thúy... vẻ đẹp của tình yêu nước, lòng dũng cảm và cả những hi sinh thầm lặng vô danh của các nữ chiến sĩ đã làm người đọc vô cùng xúc động. Người nữ chiến binh trong Người sót lại của rừng cười đã thủy chung chờ đợi và thầm mong ước đến cháy lòng gặp lại người yêu ngày trở về. Thế mà rồi chị lại tự nguyện hi sinh hạnh phúc của mình để cho người yêu đi lấy vợ khi thấy mình chỉ còn là một cô gái “gầy gò, làn môi nhợt nhạt, mái tóc xơ xác”, trong khi Thành - người yêu của chị vẫn là một chàng trai đầy sức sống. Còn cô gái thanh niên xung phong trong Họ đã trở thành đàn ông đã làm người đọc sững sờ khi từ chối nguyện vọng gần gũi của người đàn ông cô yêu tha thiết ngày chia tay khi anh ra trận, lại sẵn sàng hiến dâng trinh tiết của mình cho một người lính trẻ để anh “trở thành một người đàn ông đích thực” trước một trận đánh cảm tử. Cùng với những hi sinh lớn lao của các nữ chiến sĩ trên chiến trường, phụ nữ ở hậu phương cũng có những hi sinh thầm lặng không kém. Suốt những năm dài chiến tranh, họ đã chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền trở thành những nàng chinh phụ hóa đá, giờ hòa bình đã về, họ vẫn là những nàng vọng phu của thời hiện đại khi một mình một mâm cơm, ngồi bên nào cũng lệch. Ai không nhói lòng khi một đứa trẻ cũng nhận ra tình cảnh cay đắng của mẹ mình và thốt lên: “Mẹ còn trẻ quá, nỗi cô quạnh sẽ trùm lên mẹ trong quãng đời còn lại” (Điều ấy bây giờ con mới hiểu ra - Y Ban). Môtip “góa phụ” trở thành một trong những môtip nổi bật của truyện ngắn thời hậu chiến, đã được các nhà văn Tạ Duy Anh (Xưa kia chị đẹp nhất làng), Nguyễn Quang Lập (Người sót lại ở thung lũng Chớp Ri), Nguyễn Quang Thiều (Hai người đàn bà xóm trại), Nguyễn Minh Châu (Cỏ lau), Trầm Hương (Xin mẹ đừng xua đuổi và Thuyền nan), Sương Nguyệt Minh (Người ở bến sông Châu và Mười ba bến nước)... thể hiện một cách ấn tượng, ám ảnh. Người đọc day dứt bao nhiêu khi chứng kiến người đàn bà xưa kia bao kẻ đưa người đón giờ chỉ còn là cái bóng câm lặng bên đứa con không cha trong truyện ngắn của Tạ Duy Anh thì càng nhức nhối hơn trước chuỗi bi kịch của người đàn bà trong Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh. Nhan đề của tác phẩm chính là mười ba cái bi kịch mà Sao phải gánh chịu trong cuộc đời của mình từ khi lấy chồng, tiễn chồng đi bộ đội sau một đêm tân hôn không trọn vẹn. Rồi Sao lại phải sống trong bi kịch của sự nghi kị về lòng chung thủy, sự ghẻ lạnh của dân làng. Bi kịch hơn là nỗi đau liên tiếp khi năm lần Sao sinh con thì cả năm lần đều là những đứa con dị dạng, quái thai. Người ta có thể đo đếm những mất mát thương vong trong chiến tranh nhưng lấy gì để đo đếm được nước mắt của những người mẹ, người vợ khi sinh ra những hài nhi không mang hình dạng con người và lần lượt trả chúng về với đất? Nỗi đau của Mây - người con gái xinh đẹp nhất làng ngày nào (Người từ bến sông Châu) - là bước ra khỏi cuộc chiến trở về với một hình hài khiếm khuyết, với “cái chân cụt đến đầu gối và tấm thân còm nhom xanh lướt”. Nhưng đau đớn hơn, nhức nhối hơn là những thương tổn trong tâm hồn, khi ngày ngày nhìn sang hàng xóm, thấy người xưa “bên kia hàng dâm bụt... như đôi chim cu” còn Mây thì chỉ một thân một mình với chiếc nạng gỗ và con búp bê không biết rồi sẽ dành cho đứa trẻ nào. Mô tả những mất mát này trong số phận người phụ nữ bằng cái nhìn day dứt và cảm thông, truyện ngắn về đề tài chiến tranh đã mang đến một ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Chúng ta vẫn thường hay nói đến những cách tân trong tư duy thể loại của truyện ngắn sau Đổi mới. Không ở đâu khác, chính trong sự thể hiện những bi kịch của con người thời hậu chiến, đặc biệt là sự thể hiện con người cô đơn, các tác giả đã đào sâu vào bản thể của con người, khám phá ra những góc khuất, những miền vô thức và khía cạnh bản năng của con người tự nhiên - một nét mới mà truyện ngắn trước kia chưa có. Trong truyện ngắn Mười ba bến nước nhà văn Sương Nguyệt Minh đã thể hiện một cách tinh tế sự đòi hỏi bản năng âm thầm của người phụ nữ nông thôn xa chồng trong chiến tranh: “Có những đêm dài ghê gớm tôi lục sục không ngủ. Nằm một mình ôm gối, nhớ chồng, trằn trọc chờ sáng. Tôi lôi cái áo cũ của chồng ra ấp vào mặt, nỗi nhớ càng nôn nao, da diết hơn... Đêm đêm tôi nằm tưởng tưởng ra đủ điều, vò áo ấp mặt tìm hơi chồng. Không chịu nổi lại đổ lúa vào xay, xay đến sáng, hoặc múc nước khơi đổ ào ào tắm cho lửa lòng dịu đi...” . Nỗi lòng này của người phụ nữ trong tác phẩm của Sương Nguyệt Minh gợi cho chúng ta nhớ đến hình ảnh những người chiến sĩ trong tiểu đội của Kiên (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh) đã không ngại hiểm nguy đêm đêm ào đến lán trại những tiểu đội nữ rồi lại vội vã trở về trước khi trời sáng. Hay ý nghĩ không chút giấu giếm của người lính trong Người sót lại của rừng cười: “Đã dạn dày với cảnh chết chóc mà giờ đây, khi đứng trước thân thể lõa lồ đầy sức sống của những người con gái, Hiên run bắn. Người đàn ông đã ngủ quên trong anh giờ đây vùng vằng quẫy đạp. Trong phút chốc, Hiên muốn buông trôi, muốn quên hết”. Cũng là lời lí giải vì sao người lính trong truyện ngắn Đò ơi của Nguyễn Quang Lập đã có năm mươi hai năm sống lương thiện với một bảng thành tích dày đặc của người lái đò được mệnh danh là “người anh hùng trên sông nước”, “người đảng viên trung kiên”... nhưng lại có một giờ gây tội ác, khi vào một đêm mưa gió trên bến đò ông đã cưỡng hiếp một cô gái thanh niên xung phong trên đường trả phép về đơn vị để rồi suốt đời phải sống trong ân hận khi không tìm được cô gái mà vì mình đã phải chịu bao bất hạnh. Những câu chuyện về con người như thế làm chúng ta nhớ đến câu nói của Tim O’Brien - nhà văn Mĩ: “Các truyện viết về chiến tranh thực chất không phải bao giờ cũng viết về chiến tranh. Chúng không viết về bom đạn và mưu mô quân sự. Chúng không viết về chiến thuật, chúng không viết về các hố cá nhân và lều trại. Truyện chiến tranh giống như bất kỳ truyện hay nào, rốt cuộc là viết về trái tim con người”. Đó cũng chính là điểm mới mẻ trong truyện ngắn viết về chiến tranh thời hậu chiến đã mang lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.