TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
VÀO RỪNG ĐỌC THƠ CHO CÂY NGHE
VÀO RỪNG ĐỌC THƠ CHO CÂY NGHE
ANH NGỌC
Trong đời mình đây là lần đầu tôi làm một việc như vậy: vào rừng đọc thơ cho cây cối nghe!
Vâng, chuyện cũng khá lạ, nhưng với tôi, một người làm thơ, sao nó lại tự nhiên nhi nhiên như không thể khác – cho nên cái ý định khá điên rồ này vụt đến trong khoảnh khắc bất ngờ mà lại cứ như đã có sẵn trong tôi tự bao giờ và nó không thể không đến, nó mà không đến thì mới là chuyện lạ.
Nhưng dĩ nhiên, nó chỉ đến khi có duyên cớ, duyên số, tức là một hoàn cảnh, một tâm trạng, một cú hích như cách ta vẫn thường nói.
Ấy là cách nay gần một tháng, khi tôi có dịp sang thăm thú nước Anh, nơi những người thân yêu của tôi đang sinh sống.
Nước Anh là một xứ sở có hàng trăm hàng ngàn cái để cho ta chiêm ngưỡng, từ những gì hiện đại nhất đến cổ sơ nhất, văn minh nhất cho đến hoang dã nhất. Vâng, vậy mà sau tất cả những ấn tượng mênh mông ấy, nơi tôi thích thú nhất lại chính là cánh rừng hoang vu, hiu quạnh đại ngàn có lẽ sinh ra từ thuở khai thiên lập địa, mà lại gần ngay bên cạnh chỗ ở của chúng tôi. Thế là, như một thằng mắc bệnh nghiện ngập bẩm sinh những cảnh cô đơn và quạnh vắng, tôi đã không ngừng lang thang trong cảnh hoang vu như bị bỏ quên ấy suốt bao nhiêu buổi chiều tà, khi hoàng hôn cuối thu đầu đông giá buốt và tối sầm đang ập xuống…
Và vừa lang thang, miệng vừa lẩm bẩm những câu thơ hay câu hát bất chợt nào bật lên từ miệng mình, vang lên bên tai mình… Và có một lần như thế, tôi chợt để ý thấy một cái nấm khá to trên một thân cây mốc thếch. Eureca! Phát hiện thiên tài đây rồi! Chả là cái nấm đó chính là cái mà người Việt ta vẫn gọi là “mộc nhĩ” - mộc nhĩ nghĩa đen là “tai gỗ”, hay tai của cây thì cũng vậy.
Cây có tai ư, mà lại chìa ngay về phía mình như đang lắng nghe. Một ý nghĩ thú vị quá chừng lóe lên trong tôi: - Mày thích thì tao chiều… Tao sẽ đọc thơ cho mày nghe.
Chưa hết! Nhìn lên vòm cây cao vút, chợt bắt gặp những chiếc lá cuối cùng còn chưa bị mùa thu vặt hết. Tiếp tục reo lên: - Lá ư, chả phải đã có ông họa sĩ vẽ cái mặt con người theo hình một trái cây mỡ màng và trên khuôn mặt thiên nhiên ấy của con người, ông họa sĩ đã vô cùng tinh tế khi vẽ tiếp một đôi mắt hình chiếc lá… Vâng, hình dung đôi mắt như chiếc lá cây thì chính là một ví dụ kinh điển về sử dụng thủ pháp trong nghệ thuật: mọi sự hư ảo đều phải bắt nguồn từ một gốc thực – và quả thật, nếu nói cái lá cây kia giống cái gì trên gương mặt con người nhất, thì chắc chắn chúng khẩu đồng từ sẽ hô lên: giống con mắt!
Và thế, lũ cây rừng thương yêu giờ đây trước mắt tôi đã hóa thành những con người đích thực, những cô gái thì đúng hơn, với những cái tai “mộc nhĩ” và những “con mắt lá răm” tình tứ và dịu dàng đang đắm đuối nhìn tôi.
Ôi, những con-người-cây-cối mà Bà Mẹ Thiên Nhiên đã ban cho tôi làm bạn trong những giờ cô đơn, hiu quạnh tột đỉnh giữa rừng hoang.
Tôi nhẹ nhàng đặt tay lên một thân cây già nua có lẽ đã trăm năm và lắng nghe tiếng xạc xào của vòm lá như đang thủ thỉ với trái tim tôi những lời âu yếm vô bờ…
Và thế là, như không thể khác – tôi quyết định sẽ đứng tại đây, nơi xó rừng hoang có lẽ là hiu quạnh nhất trái đất, để đọc cho lũ “khán thính giả bằng gỗ” vô tư nhưng không vô tình này của tôi những dòng thơ chảy ra từ trái tim tôi.
Nhưng tôi là một con người hiện đại, tôi có những thứ vũ khí của khoa học hiện đại như những cánh tay nối dài vô tận, để nối tôi với mọi con người vô hình trên trái đất.
Tôi chọn một cái chẽ cây chắc chắn, dựng cái điện thoại thông minh có thể chụp ảnh, quay camera và ghi âm của mình lên đó, đoạn, tôi lùi ra xa một chút, lặng lẽ nhắm mắt lại, hình dung bao nhiêu ánh mắt đang nhìn mình, bao nhiêu cái tai đang nghiêng về phía mình…
Và đọc!
…
Rơi xuống từ trời những sắc lá vàng phai
Giọt nước mắt của mùa đông lạnh lẽo
Chiều đã xuống trên mặt người khô héo
Thế gian đẹp và buồn
Ngân lên từ những sợi dây đàn
Tiếng run rẩy mười ngón tay gầy guộc
Tiếng im lặng cặp kính tròn ngơ ngác
Trái tim yêu và đau…
(“Người hát rong của thế kỉ hai mươi” – A.N)
Khi tôi đọc những lời tôi viết tặng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn này thì tôi biết rằng chúng cũng là những lời để tặng chính tôi, để tự vẽ chân dung tinh thần của tôi, một thằng làm thơ và được trời ban cho một linh hồn quá phức tạp, luôn đa đoan với trăm thứ buồn vui.
Và tiếp đó là những lời trực tiếp về chính mình, nơi thực lòng tôi chẳng còn giấu giếm gì trước lũ cây rừng:
…
Tâm hồn anh là một buổi chiều đông
Buông chầm chậm ở ngoài khung cửa sổ
Lạnh và xám như mặt hồ nước ngủ
Như góc tường rêu phủ đã ngàn năm…
Những ngả đường lầy lội khuất trong mưa
Về đâu đó những bước chân vô định
Quay bốn phía chỉ gặp toàn hiu quạnh
Anh một mình lạc lối giữa mênh mông…
(“Tâm hồn anh” – A.N)
Không có ý định và cũng chẳng có khả năng tiên tri hay dự báo gì, nhưng sao những câu thơ vang lên ở cái xó rừng heo hút của nơi cùng trời cuối đất và giữa một ngày cuối thu đầu đông lạnh buốt này của xứ bắc bán cầu… lại cứ như được viết sẵn ra từ đời nảo đời nào để dành sẵn cho giây phút này và ở chính nơi đây. Thật không hiểu được. Có thể trong số kiếp của mình, tôi có một cái duyên nào đó với mùa đông hơn những mùa còn lại, và nặng nợ với những cánh rừng hơn là với biển chẳng hạn, và cây cối nữa, nỗi thương yêu lo lắng thường trực của tôi dành cho những loài sinh vật vô tri vô giác này cũng như có tự đời nảo đời nào và luôn lẩn quất ở trong tôi.
Và cuối cùng thì những lời buồn bã nhất và thực lòng nhất cũng được dịp thốt lên đúng nơi đúng lúc:
…
Tôi đã chạy như một thằng hóa dại
Tôi chạy trốn dưới gầm trời chạy mãi…
Chạy trốn bầy đàn, chạy trốn cô đơn
Chạy trốn ngọt ngào, chạy trốn niềm cay đắng
Bầu trời thì cao, đất đai thì rộng
Tôi chạy đi đâu, tôi chạy tới bao giờ…
Tôi đâu ngờ trái tim đã lừa tôi
Vừa chạy trốn vừa âm thầm vẫy gọi
Rắc lông ngỗng cho kẻ thù biết lối
Lông ngỗng bay, lông ngỗng bay trắng xóa cả gầm trời
Tôi chạy hoài
Không trốn được
Chính tôi!
(“Chạy trốn dưới gầm trời” – A.N)
Khi những câu thơ cuối cùng thốt lên, tôi nghe như có tiếng lá cây xào xạc - những khán thính giả đã không thể lạnh tanh được nữa. Chúng vỗ tay tán thưởng tôi bằng những bàn tay lá úa vàng nhưng không chịu rụng, những chiếc lá vẫn chung thủy chờ tôi để có cơ may được bày tỏ chút lòng…
Ôi, những chiếc lá! Chúng đã giúp tôi biết rằng dẫu chỉ có một thân một mình giữa nơi hoang vắng tột cùng nhưng tôi không bao giờ đơn độc.
Những chiếc lá đã nâng tôi và chút lòng thành của mình đến gặp gỡ với cả thế gian!
Thế đó, câu chuyện vào rừng đọc thơ cho cây cối nghe của tôi đến đây là hết.
Chỉ còn lại mảnh tình tôi gửi lại nơi hoang vắng cách xa hàng vạn dặm – em ơi, cánh rừng yêu dấu của tôi, biết bao giờ tôi lại được sà vào lòng em lần nữa, và một lần nữa được trò chuyện cùng em bằng những lời thốt tự đáy lòng?
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.