Nhöõng aâm ‘iu’ trong ‘chôi phieâu dieâu’, ‘keâu em yeâu’, ‘traêng thiu,’ ñeâm hiu’ keùo daøi caû ñoaïn thô, gôïi leân söï xoùt xa vaø noãi buoàn thaûm naûo chaát chöùa trong traùi tim nhaân vaät tröõ tình. Không thể chia sớt nỗi buồn trong không-thời gian thực tại, trái tim ấy tìm quên trong một mùa thu tâm linh huyền bí. Cõi mộng vô hình ấy chất đầy nỗi buồn đau của nhà thơ cùng những âm hồn sa ngã nơi trần thế. Những tưởng nỗi buồn đã vơi đi theo miền thu mộng tưởng, nhà thơ cũng đã khẳng định sự chai sạn tình cảm của bản thân: “Sao tôi không buồn kêu em yêu?”. Thế nhưng sự phủ định ấy cũng chỉ là lời khẳng định chắc chắn cho phức cảm mới tràn về thắm thía:
“Traêng nay khoâng naøng nhö traêng thiu
Ñeâm nay khoâng naøng nhö ñeâm hiu.”
Nỗi buồn đã qua đi cùng cõi mộng tưởng, những bóng hình yêu thương cũng đã lìa xa vào cõi hư vô, đọng lại trong lòng nhà thơ chỉ còn nỗi cô đơn trống vắng đến quặn thắt. Điệp từ ‘không nàng’ cứ như một lưỡi dao vô hình có hai mặt: một mặt đem lại cho nhà thơ cảm giác hạnh phúc được ngụy tạo bằng ảo mộng, một mặt lại cứa sâu vô hạn vào tâm hồn nhà thơ những vết thương rớm máu. Vết thương ấy bật lại vào không gian một nỗi buồn thấm thía đến tê người. Hình ảnh so sánh ‘trăng thiu’ và ‘đêm hiu’ đã lập ra một hệ quy chiếu cõi lòng nhà thơ lên toàn bộ cảnh vật. Sầu mộng thấm tràn cả không gian, tràn lan khắp trăng đêm hiu quạnh và dường như muốn phủ định cả thời gian. Sau những dòng tâm tư bất định ấy, chỉ còn nhà thơ với ánh trăng thu dã dượi, cô đơn đến tột cùng:
“Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.”
nhưng vẫn mãi mãi mong tìm hạnh phúc xa xôi trong một ‘cơn mê’:
“…Trời hỡi! Lạy trời cho ai thương
Để ai cho một ống hồi dương…” (Cơn mê)
Thế nhưng buồn đau khắc khoải vì tình yêu không trọn vẹn nào có phải khía cạnh phiến diện duy nhất của thi ca tình yêu. Dòng thơ tình lãng mạn khi xuyên thấu qua lăng kính tình yêu của Xuân Diệu bỗng tán sắc ra muôn vàn sắc màu tươi đẹp nồng thắm - những sắc hương trong mắt một kẻ si tình với khát khao chạm được đến tận cùng ngọn nguồn xứ sở yêu thương:
“Haõy saùt ñoâi ñaàu, haõy keà ñoâi ngöïc
Haõy troän nhau ñoâi maùi toùc ngaén daøi
Nhöõng caùnh tay haõy quaán rieát ñoâi vai
Haõy daâng caû tình yeâu leân soùng maét
Haõy khaêng khít nhöõng caëp moâi beàn chaët
Cho anh nghe ñoâi haøm ngoïc của raêng…”
Mở ra trước mắt người đọc là một loạt các hình ảnh, hành động bộc lộ tình yêu lứa đôi mãnh liệt đến dữ dội. Chỉ biết rằng từ trước đến nay chưa có nhà thơ nào dám bộc bạch những rung động cuồng si mạnh mẽ đến như vậy. Những cung bậc cảm xúc mãnh liệt của Xuân Diệu chảy tràn lan khắp đoạn thơ, xô đẩy câu thơ, khuôn khổ thơ bị xê dịch do tính chất dữ dội của dòng cảm xúc say đắm miên man. Dòng cảm xúc ấy được cấu tứ nên từ giây phút gặp gỡ của đôi lứa yêu nhau:
“Có một bận em ngồi xa anh quá
Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn
Em xích thêm một chút, anh hờn
Em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa
Anh sắp giận, em mỉm cười vội vã
Đến kề bên và mơn trớn: ‘em đây’ ”
Dẫu kề bên là người con gái mà mình hằng yêu thương mong nhớ, người con trai vẫn cảm thấy xa cách diệu vợi, thậm chí bị đẩy đến mức giận dỗi đớn đau. Là một nhà thơ tình đã đi đến tận cùng của xứ sở yêu thương, Xuân Diệu sao có thể chấp nhận sự lạnh lùng giá băng trong tình yêu? Người thổi tan hết những thành trì quan niệm tình cảm trai gái e ấp, dè dặt, kín đáo, dịu dàng, đem lại những phong vị mới mẻ nhằm thỏa mãn khát khao yêu đương cháy bỏng trong tình yêu. Nghệ thuật trong đoạn thơ được sử dụng đậm đặc đến tinh tế, làm phá vỡ tính quy phạm khô cứng trong thơ cổ. Một loạt các động từ mạnh ‘sát, kề, trộn, quấn, riết, dâng, khăng khít’ được liệt kê đan xen những hình ảnh sóng đôi của đôi lứa yêu nhau: ‘đôi đầu, đôi ngực, đôi mái tóc, đôi vai, cặp môi, đôi hàm ngọc’ đã thật sự làm bộc phát chất dữ dội của một tâm hồn cuồng si đến ngây dại. Điệp từ ‘hãy’ không khô cứng như một mệnh lệnh mà lại mềm mại. dịu dàng, ấm áp như lời nhắn nhủ hạnh phúc đến đôi lứa yêu nhau. Sự ‘xa cách’ của lứa đôi dường như đã được rút ngắn đến đỉnh điểm, trở thành hành động yêu thương cuồng nhiệt. Cả hai chủ thể trữ tình đã hòa quyện làm một, cùng tận hưởng khúc ca mê say, rạo rực đến hoang dại của tình si. Các hình tượng, hành động trong đoạn thơ không mang tính đơn lập riêng lẻ mà đan cài, gắn kết với nhau, làm bộc phát một chuỗi phản ứng yêu đương choáng ngợp người đọc. Yếu tố nhục thể thường thấy trong Thơ Mới được đẩy lên đến cực đỉnh của cảm thức nhưng lại giàu chất thơ, không gợn chút thô tục. Lứa đôi yêu đương đắm chìm trong cơn vui say ngây ngất. Men tình trở thành chất keo kết dính hai trái tim cháy khát yêu thương. Chất bỏng cháy ấy chỉ có thể được xoa dịu bằng sự hòa điệu trong xúc cảm yêu thương, hòa thanh trong từng nhịp thở khát khao và rõ hơn hết chính là sự giao thoa trong hành động thương yêu. Đôi lứa đắm say trong khúc hoan ca của ái tình, từng bộ phận trên cơ thể hòa kết bền chặt với nhau, tưởng chừng không thể tồn tại một sức mạnh nào có khả năng chia cắt niềm say mê ấy. Đầu sát bên đầu, vai kề vai, tay trong tay, họ - những con người với khát vọng yêu đương nhân bản đã, đang và sẽ tận hưởng nụ hôn mãnh liệt, khăng khít gắn chặt không rời. Niềm vui say được tận hưởng những vẻ đẹp của người yêu: “Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng” cũng chính là niềm hạnh phúc của bất kì lứa đôi nào trên toàn cõi cộng đồng nhân loại.
“Trong cơn say anh sẽ bảo em rằng:
Gần thêm nữa, thế vẫn còn xa lắm”
Sau những phút giây cuồng nhiệt sục sôi ấy, ta trở lại với bản ngã vị kỉ của chàng trai và bỗng thấy ngậm ngùi đến xót xa. Vì sao mà khi đã gần như lên đến đỉnh điểm của sự thỏa mãn tình cảm, chàng trai ấy vẫn cảm thấy một cách chua cay: “Thế vẫn còn xa lắm”, vẫn không thể nào rút ngắn tuyệt đối khoảng cách của lứa đôi. Đến đây ta có thể phần nào cảm thấy thấm thía cái tôi lãng mạn tuyệt đối pha lẫn giữa sắc màu thắm tươi của lòng yêu đời thiết tha và nỗi hoài nghi, chán nản, cô đơn đã phủ trùm thơ Xuân Diệu trong thời kì Thơ Mới trước Cách mạng:
“Kẻ uống tình yêu giập cả môi
Bàn tay chín móng bám vào đời” (Hư vô)
“Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng Ta” (Hy Mã Lạp Sơn)
Phải chăngvì bản ngã luôn cháy khát tình người lẫn sự giao hòa toàn vẹn trong cuộc sống và nỗi ray rức không tìm thấy những tâm hồn hòa điệu tương tri mà Xuân Diệu đã không thể thỏa mãn với bất kì suối nguồn yêu thương nào, dù mát lành, ngọt ngào tột bậc. Bởi vậy có người đã từng nhận định: “Nơi lạnh giá nhất trên thế giới không phải ở Bắc Cực mà là ở nơi loài người không có tình yêu thương”. Người trai trẻ ấy sống giữa cuộc đời băng giá với một trái tim yêu thương nóng bỏng, cuồng nhiệt đến si mê. Hai thái cực tương phản giữa ngoại cảnh và nội tâm, giữa lòng người dửng dưng và nhiệt huyết sục sôi của tuổi trẻ đả vô hình chung tạc tạo nên những vần thơ tình say đắm và cũng đầy đau xót mà theo Thế Lữ “đã hát lên những tiếng đẹp đẽ, ngọt ngào,yên ủi được chúng ta trong cuộc đời hiện thực”. Còn Hàn Mặc Tử khi đọc những vần thơ đậm chất yêu thương ấy đã phải thốt lên rằng: “Tôi thấy nỗi đau của mình được xoa dịu nhiều lắm!”. Vậy mới biết dòng thơ tình Xuân Diệu quý giá bao nhiêu khi nó có thể chữa lành vết thương lòng của một con người đã đi đến tận cùng của khổ- não-sầu-u.
Cả hai bài thơ xứng đáng trở thành một trong những đóa hoa thắm tươi hương sắc trong vườn thơ ái tình của Việt Nam. Bằng những cảm xúc dữ dội rực cháy trong tâm hồn nhà thơ được cộng hưởng với xúc cảm đắm say của một thời đại, Xuân Diệu và Bích Khê đã cùng cất lên những khúc hoan ca tình ái mê say đa cung bậc: lúc thì dịu nhẹ một nỗi buồn nhưmột bản giao hưởng trầm lắng; lúc lại dữ dội, mãnh liệt, cuồng nhiệt yêu thương như bản hùng ca hoành tráng… Dù được bộc lộ với cung bậc nào, cả hai bài thơ đều như tấm vé kì diệu đưa ta đi xa, tiến sâu vào hành trình khám phá mảnh đất tình yêu. Và còn gì quý báu hơn khi trái tim của ta vừa chạm vào mảnh đất ấy, đôi mắt đã thấy bừng tỏa bao sắc màu diễm lệ…
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.