• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Tư liệu
 
KHUYNH HƯỚNG TÂM LINH TRONG THƠ BÍCH KHÊ - Tiểu luận TRẦN BẢO ĐỊNH

KHUYNH HƯỚNG TÂM LINH TRONG THƠ BÍCH KHÊ - Tiểu luận TRẦN BẢO ĐỊNH



Trần Bảo Định

 

Bích Khê, tên thật Lê Quang Lương sinh ngày 21 tháng 2 năm Bính Thìn, tức ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại xã Phước Lộc, quận Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nhập tịch và trú ngụ tại Thu Xà. Cha của thi sĩ Bích Khê, cụ Lê Quang Dục, là bậc túc nho ở tỉnh, ông qua đời khi Bích Khê còn ở tuổi vị thành niên. Mẹ của thi sĩ Bích Khê, cụ bà Phạm Thị Đoan, vốn là con gái nhà danh giá ở vùng nam trung phần nước Việt. Từ nhỏ Bích Khê đã thông minh, tính tình cường ký. Càng lớn, chàng càng tỏ ra hào hiệp, giúp người hết lòng. “Bao nhiêu tiền cha mẹ và anh chị cho, người nghèo hưởng gần hết. Những người đói rách, thiếu thốn vào đến cổng nhà là hỏi thăm “Cậu Chín”. Hễ có cậu Chín, họ có áo quần cũ, có cơm ăn, có tiền xài …”[1]. Nhưng sự hào hiệp của chàng thi sĩ có khi nhận lại trái đắng. Sau khi bị người bạn chí thân bội phản, Bích Khê về lại Thu Xà, dựng một căn phòng trong chái nhà trên. Từ đó, chàng đi vào cõi thơ, đi vào thi đàn Việt Nam và thướng vượt đến cõi cao diệu của thần thức. Đương thời, Hàn Mặc Tử nhìn thấy: “Bích Khê, thi sĩ thần linh”.

Chiêm nghiệm cuộc đời

Theo lời kể của bà Lê Thị Ngọc Sương – chị ruột của nhà thơ Bích Khê: “Bích Khê là người em thứ chín trong số chín anh chị em có sẵn trong huyết quản một giòng máu anh dũng. Ông nội Bích Khê – ông nội chúng tôi – làm quan dưới triều Tự Đức đã tuẫn tử để khỏi phải cộng tác với một vị đại thần có quyền “tiền trảm hậu tấu” đã từng lãnh trách nhiệm đàn áp cuộc khởi nghĩa của nhà chí sĩ Phan Đình Phùng. Cha chúng tôi đã từng tham dự vào phong trào Đông Du giữa lúc lòng yêu nước đương hướng tất cả sĩ phu chân chính vào những cuộc vận động dân tộc chống thực dân dành độc lập cho đất nước”[2]. Thi sĩ Bích Khê đã lớn lên trong mái gia đình với tinh thần yêu nước và khí tiết đáng khâm phục như vậy. Dễ hiểu vì sao lúc cuối đời, khi đang năm trên giường bệnh, năm 1945, chàng thi sĩ hay tin khởi nghĩa, chàng mừng quá, nằm trên ghế bố bảo người nhà khiêng ra cửa đón phong trào đương lên. Cách mạng tháng Tám 1945 khiến lòng chàng thấy yêu đời hết sức, chàng nói với chị Ngọc Sương: “em chưa muốn chết! em yêu đời quá”[3].

Căn tính thi ca của Bích Khê được hun đúc trong khí tiết truyền thừa qua nhiều thế hệ; từ ông, cha cho đến các anh chị trong gia đình. Theo nhà thơ Thanh Thảo, gia đình thi sĩ Bích Khê: một gia đình yêu nước và cách mạng. “Ông nội Bích Khê là Lê Trọng Khanh, là người đỗ đạt, từng là tri phủ Phủ Lý (Hà Nam), nhưng ông đã từ quan về quê ở Nghĩa Hành (Quảng Ngãi) do tư tưởng bất hợp tác với Pháp. Trùm Việt gian, đại thần Nguyễn Thân hồi đó biết Lê Trọng Khanh là người có uy tín, có khí tiết nên dụ dỗ ông ra làm quan. Biết được dã tâm này của Nguyễn Thân, ông Khanh đã uống thuốc độc tự tử, quyết nêu cao tiết tháo, không đứng cùng phía với bọn bán nước”[4]. Không chỉ ông mà cha cũng như anh chị em của thi sĩ Bích Khê đều tỏ ra lòng yêu nước và giữ đúng tiết tháo gia phong. Cha của Bích Khê – cụ Lê Quang Dục – là nhà nho sống đời thanh bần không hợp tác với Pháp; chị của Bích Khê – bà Lê Thị Ngọc Sương – hoạt động cách mạng từ niên thiếu, được cụ Phan Bội Châu nhận làm con nuôi. Ngoài ra các anh như Lê Quang Khâm, Lê Quang Hường đều tham gia cách mạng, hay như ông anh Lê Quang Thuần có bốn người con đi tập kết.

Ngay từ nhỏ, chàng thi sĩ đã bẩm thụ khí tiết gia đình. Sống trong tình cảnh thuộc địa, ngay từ lúc thiếu niên, Bích Khê không khỏi phải đối diện nhiều chiêm nghiệm về hiện hữu. Mười sáu tuổi, chàng thiếu niên ấy đã có những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc hý trường dâu bể. Chính điều này làm điểm tựa cho hành trình thi ca của chàng về sâu. Từ những chiêm nghiệm đó, chàng thi sĩ làng Thu Xà đã đi và đi xa vào cõi thơ mênh mông bát ngát mười phương.

Rồi, khi vào đời và giao thiệp với bằng hữu, có lẽ nhà thơ chiêm nghiệm được nhiều thói đời thấm thía. Những chiêm nghiệm xuất phát từ thuở mười sáu mười bảy tuổi đã mang chỉ dấu ươm mầm đậm chất trong từng trang thơ. Đặc biệt, Bích Khê là người coi trọng tình bạn. Nhưng, cũng ở tình bằng hữu, Bích Khê nếm trải sự phản bội. Với những khổ lụy trên bước đường đời mang lại, Bích Khê chiêm nghiệm. Những hung hiểm của tình đời tình người khiến chàng thi sĩ bột phát ưu tư. Đó là làn sóng truy vấn hiện hữu để rồi lan tỏa vào thơ.

Đối với chàng thi sĩ, nhân sinh như bãi chợ ngổn ngang của đạo đức suy đồi. Phải chăng vì thế, chàng thi sĩ chán ngán, đã tìm đến thi ca. Thi ca như cứu cánh hoặc cũng có thể như cõi riêng mà chàng có thể đi tới những tuyệt đích của hiện hữu, như lòng chàng luôn khao khát.

 

Nhục phàm thiêng liêng

Từ chiêm nghiệm lẽ đời, chàng thi sĩ họ Lương ắt hẳn gậm nhấm nhiều nỗi u hoài đậm màu ngao ngán và rồi, chàng lặng thầm rời bỏ cõi tục với những ô hợp của lòng người. Chàng đi vào cõi thơ muôn đời để bất tử hóa những điều có nghĩa lý thực sự. Cái đẹp muôn đời vĩnh tuyệt! Sự phi thăng của xác tục: hồn thiêng. Chính ở cõi này chàng thơ xứ Thu Xà tao ngộ với Lý Bạch, với Hồ Xuân Hương..., với muôn đời thi sĩ. Trong cõi đó, nhục phàm hiển linh, đẹp mê mẩn và thiêng hóa thần phách.

Cõi trời với cõi trần, cõi thiêng với cõi tục nhập hòa vào cái đẹp duy nhất. Điều đáng nói là Bích Khê dựng nên cõi thiêng trong chính cõi phàm này. Qua thi ca, Bích Khê mở ra cõi thiêng trong chính cõi tục tình ái, khổ đau, phiền lụy và cô quạnh này.

Điểm nổi bật hơn thế, sự thiêng hóa nhục phàm trong thơ Bích Khê luôn diễn ra trong vũ và nhạc. Nhạc và vũ trong thơ Bích Khê như dung môi và xúc tác để phàm tục phi thiêng tuyệt mỹ. Vũ đó – nghê thường; nhạc đó – tỳ bà. Thi ca là phép thanh tẩy, Bích Khê dùng đến để gột rửa thế sự nhơ nhuốc.

Vẻ tục còn được hóa thiêng bởi đôi mắt – tức ánh nhìn. Chàng thi sĩ thiếu niên có đôi mắt trong tợ ngọc, có khả năng quan sát và phát hiện vẻ đẹp siêu thực của đối tượng. Đôi mắt thi ca của Bích Khê phóng chiếu và khiến cho những ánh sáng thần tình những hương thơm thánh thiện phát tỏa - một thủ pháp của “nghệ thuật siêu thần” (từ dùng của Hàn Mặc Tử).

Với nghệ thuật ấy, tục phàm trong thơ Bích Khê hiện ra như nghi lễ siêu vượt. Và, làm thơ với Bích Khê là thực hành nghi lễ. Đúng hơn: tế lễ. Nhà thơ dùng thi ca để hiến tế thần hồn cốt phách cho thi ca, cho nàng thơ muôn đời. Bấy giờ, thi ca Bích Khê như tế đàn nghệ thuật. Thi nhân đã phủ phục bên nàng thơ muôn đời – nàng thơ bấy giờ hiện ra như ý tượng siêu hình của Tạo Hóa Thần Diệu. Nhục phàm thiêng hóa chính là ở sự phụng hiến như vậy!

Bên Tạo Hóa Thần Diệu, bên nàng thơ muôn đời, hồn thi sĩ cơ hồ đã thông linh với vũ trụ mênh mông.

 

Thông linh vũ trụ

Trải nghiệm chủ quan và nội tại, Bích Khê có trực giác mạnh mẽ. Thơ Bích Khê có khả năng trong sự khai mở yếu tính. Khai mở ở đây không phải sự trình bày hay nhận thấy mà sự trực giác. Trực giác này nằm ngoài ngôn ngữ thông thường của “người trần”. Đó là thứ ngôn ngữ tỉnh thức nội tại của “thần linh”. Trực giác của thơ Bích Khê hầu như đã tiếp chạm thần thức.

“Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần, thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sống phong tình mà thanh khiết cho giai nhân? Để có cái ma lực huyền diệu cám dỗ được ngũ quan của người trần …” (Hàn Mặc Tử)[5].

Quả thực ngôn ngữ thơ của Bích Khê có ma lực “bất khả tri”. Tức là không thể và không nên dùng lý trí để phân tích suy luận; ngôn ngữ thơ Bích Khê mà có lẽ ngôn ngữ thơ nói chung không thể dùng lưỡi dao lý trí mà sử dụng vòng tay ôm ấp trìu mến để cảm thương. Và còn hơn thế, ngôn ngữ thơ thông linh của Bích Khê cần ấp iu trìu mến, cần thương và cần cảm, cần nhập định!

Không chỉ nhờ ngôn ngữ thơ mà thần thức thi nhân thông linh vũ trụ. Đó là quá trình sáng tạo cơ hồ bí nhiệm. Có lẽ ở phương diện này, nhà thơ Thanh Thảo đã phát hiện ra cơ chế sáng tạo của chàng thi sĩ Bích Khê. Sự sáng tạo thể như: khoảnh khắc mà muôn đời.

“Thi sĩ sáng tạo với toàn bộ thể chất và tâm linh mình, và không biết cái nào bắt đầu trước: thế xác hay tâm linh? Đó là những bài thơ người ta chỉ phóng ra có một lần, xuất ra có một lần. Phần tích điện, phần thu góp năng lượng là cả một quá trình, nhưng sáng tạo là khoảnh khắc. Khoảnh khắc ấy xảy ra càng đột ngột bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Vì thế những bài thơ Bích Khê phải dùng nhạc điệu để đưa dần thơ vào “cõi quên”, “cõi mê”, tức là đưa dần ý thức vào vô thức” (Thanh Thảo) [6].

Nhưng không dừng lại ở vô thức, mà khi sự trực giác của chàng thi sĩ Thu Xà đụng chạm đến thì bờ cõi chiêm bao thì bờ chiêm bao dạt vào vô thức, đụng chạm đến bờ cõi vô thức thì bờ vô thức liền xô dạt đến trời huyền diệu (như Hàn Mặc Tử đã nhận thấy). Nhưng trời huyền diệu này không được hiểu như là vượt đến mà nên được hiểu như là trở về. Linh hồn trở về với Chân Linh. Quy nguyên trực chỉ!

Qua thi ca, Bích Khê khám phá cõi siêu việt, thông linh vũ trụ. Nhưng cõi trời ấy không phải chốn vĩnh lạc an nhiên của chư thiên mà ở đó hồn thi sĩ nhặt từng cánh hoa rụng – cánh hoa đau thương. Chốn đó đau thương đã trở nên vĩnh hằng.

Cũng với thi ca, chàng thi sĩ khai mở những tương phùng màu nhiệm, những giao ngộ phi thường. Từ giao ngộ với giai nhân với thần tượng thẩm mỹ của hồn thơ, chàng thi sĩ đã hiệp thông tâm thức với thần thức. Sự thông linh này biểu thị khao khát của hồn người trần lụy trong bi ai, muốn thướng vượt đến cõi cao diệu của tâm linh. Cởi bỏ xác tục máu mủ u buồn, bằng ngòi bút thần, thi sĩ tiến nhập bản thể, trở nên vĩnh hằng.

Đêm cuối trước khi mất, Bích Khê ân cần nói với mẹ: “con còn ở với mẹ nửa đêm nay nữa. Ngày trăm tuổi già của mẹ, con sẽ về rước mẹ đi” (theo lời kể Quách Tấn). Đến lúc mất, Bích Khê vẫn còn bình tĩnh, tỉnh táo, trông nhẹ nhàng thanh thản. Cận phút lâm chung, thần trí chàng vẫn tỉnh thức có phải vì những lần tụng kinh Di Đà; hay có phải vì sự thăm viếng của nhà sư mà trước đó Bích Khê đã quen khi nằm viện; hay là vì thơ. Có phải thi ca mở ra cho chàng con đường liên thông đời này với đời đời. Chàng thi sĩ tan ra ánh sáng khiêu vũ trong ánh sáng muôn đời vạn đại.

Nhưng cũng chính với thơ, “Anh hoa phát tiết ra ngoài/ Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa” (Truyện Kiều). Thơ giúp linh hồn Bích Khê ký xuất tinh anh, cũng là phương tiện cho thần thức còn lưu lại trên đời. Nhưng cũng từ đó mệnh bạc xung khắc tài hoa. Bích Khê ra đi trong đêm rằm tháng chạp năm Ất Dậu, tức ngày 17 tháng 1 năm 1946. Trong đêm đó, người nhà thấy một vầng sáng xanh bay lên trên mái nhà. “Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy”.

Bỏ lại mệnh số, bỏ lại tài hoa, bỏ lại trần lụy, chàng thi sĩ trở về cõi tình vô biên, cõi trời vô hạn, tiến nhập u huyền.

Bích Khê tiến nhập cõi u huyền để từ đó diêu dao. Thơ là cầu nối là phương tiện và cách thức để nhà thơ tiến nhập cõi huyền, trở về thượng phương bát ngát. Chỉ còn những vô hạn mến thương đi về dưới bóng nguyệt mờ.

 

Tạm kết

Ngay từ tuổi thiếu niên, chàng thi sĩ Bích Khê đã bộc lộ nhiều chiêm nghiệm về lẽ đời và tình đời. Chàng nhận thấy chỗ hoang phế của luân lý suy đồi nên khao khát nơi chốn thanh khiết cho tâm hồn. Khuynh hướng tâm linh trong thi ca Bích Khê chính là biểu hiện cho khao khát như vậy.

Thông qua trang thơ, thi sĩ Bích Khê - người con hoàn toàn thuộc về núi Ấn sông Trà -  đã thanh lọc tâm hồn và đưa hồn riêng có ấy đến chỗ cao diệu của sự tồn tại cùng thời gian; đồng thời gợi mở và làm thanh mát tâm hồn người đọc. Tâm hồn Bích Khê Lê Quang Lương, thi ca còn hiện ra như tế đàn nghệ thuật, như tế lễ dành cho nàng thơ muôn đời; là phụng hiến cho Tạo Hóa Huyền Diệu. Cõi thơ của chàng đích thực khả thể thông linh vũ trụ, tiến nhập U Huyền. Đó là, hành trình mà hồn phách chàng trở về với Chân Linh Vĩnh Hằng. Nếu, Hàn Mặc Tử là phượng hoàng đẫm máu thì Bích Khê là khổng tước ngũ sắc trên cung trời Đao Lợi.

Từ khuynh hướng tâm linh, bạn đọc còn có thể cảm nhận thơ ca Bích Khê tiêu biểu cho cuộc tương phùng Đông – Tây. Hồn thơ Bích Khê đậm đà tinh hoa tư tưởng phương Đông hài hòa trong thi pháp phương Tây, tạo nên phong cách thơ độc đáo. Thơ Bích Khê vừa chan hòa tình tự dân tộc, vừa uyên áo phong khí Á Đông, vừa tân thời và táo bạo theo lối phương Tây. Cuộc tương phùng Đông -  Tây trong thơ Bích Khê, là đóng góp đáng kể cho thơ ca hiện đại Việt Nam cũng như sự phát triển của thơ Việt ở những giai đoạn về sau. 

 

TRẦN BẢO ĐỊNH


[1] Ngọc Sương (1964/2003). Người em: Bích Khê. Trong sách 70 năm đọc thơ Bích Khê. Hà Nội: Nxb. Thanh Niên, tr.10.

[2] Ngọc Sương (1964/2003). Người em: Bích Khê. Trong sách 70 năm đọc thơ Bích Khê. Hà Nội: Nxb. Thanh Niên, tr.8.

[3] Ngọc Sương (1964/2003). Người em: Bích Khê. Trong sách 70 năm đọc thơ Bích Khê. Hà Nội: Nxb. Thanh Niên, tr.24.

[4] Thanh Thảo (2003). Gia đình nhà thơ Bích Khê – Một gia đình cách mạng. Trong sách 70 năm đọc thơ Bích Khê. Hà Nội: Nxb. Thanh Niên, tr.193-194.

[5] Hàn Mặc Tử (2003). Bích Khê - thi sĩ thần linh. Trong sách 70 năm đọc thơ Bích Khê. Hà Nội: Nxb. Thanh Niên, tr.103.

[6] Thanh Thảo (2003). Nàng bước tới. Trong sách 70 năm đọc thơ Bích Khê. Hà Nội: Nxb. Thanh Niên, tr.144-145.

 

 



Tin tức khác

· 110 NĂM NGÀY SINH BÍCH KHÊ - 'ĐỈNH NÚI LẠ' TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI
· VÀI NÉT VỀ NGÔN NGỮ TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ VẪN VỀ TRONG BÓNG NGUYỆT SOI - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· BÍCH KHÊ - ĐỈNH NÚI LẠ
· THƠ BÍCH KHÊ TRONG KHÔNG GIAN SẦU MỘNG - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· THƠ BÍCH KHÊ MỚI HƠN THƠ HÀN MẶC TỬ, VÌ SAO? - Tiểu luận THANH THẢO
· KHUYNH HƯỚNG TÂM LINH TRONG THƠ BÍCH KHÊ - Tiểu luận TRẦN BẢO ĐỊNH
· BÍCH KHÊ - MỘT TRĂM NĂM: TẬP TƯ LIỆU ĐẦY ĐỦ NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM SINH BÍCH KHÊ (1916 - 2016)
· ĐẾN VỚI “TINH HUYẾT” ĐẾN VỚI MỘT THẾ GIỚI THƠ MƠ ẢO
· VÀNG RƠI, VÀNG RƠI, THU MÊNH MÔNG! - Tiểu luận PHẠM HIỀN MÂY
· THƠ CỦA TÂM NHIÊN VIẾT VỀ QUẢNG NGÃI VÀ BÍCH KHÊ
· “TINH HUYẾT – TINH HOA” VÀ ĐIỆU HỒN BÍCH KHÊ
· MẤY CẢM XÚC VỀ BÍCH KHÊ VÀ THƠ BÍCH KHÊ -Tiểu luận TRẦN HOÀI HÀ
· THĂM LẠI VỊNH TIÊN SÀ - QUÊ HƯƠNG THI SĨ BÍCH KHÊ -Tiểu luận NGUYỄN TRUNG HIẾU
· NGÔ VĂN PHÚ HỎI CHUYỆN TẾ HANH VỀ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ - HỒN AI SAY BÓNG NGUYỆT
· ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· ĐẾN VỚI BÀI THƠ “CÙNG MỘT CÔ ĐÀO HÁT BỘ” - HÀ HUY HOÀNG
· SO SÁNH TU TỪ VỚI SỰ THỂ HIỆN TƯ DUY TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ
· BÍCH KHÊ MẮT TƯỢNG TRƯNG -Tiểu luận MAI BÁ ẤN

Tin tức mới
♦ THƠ HOÀNG VŨ THUẬT - CÕI NGHÌN NĂM (18/04/2026)
♦ MINH MẠNG, VUA NGUYỄN DÙNG ẤN 'HOÀNG ĐẾ CHI BẢO' VÀO VIỆC GÌ? (18/04/2026)
♦ NHỮNG NHÀ THỜ ĐỘC ĐÁO: NƠI LƯU GIỮ TRANG RỬA TỘI CỦA THI SI HÀN MẶC TỬ (18/04/2026)
♦ VỀ ĐỊA DANH NÚI NHẠN TRONG 'ANH CÒN NỢ EM' (18/04/2026)
♦ QUÃNG ĐỜI CAY NGHIỆT BỊ MIỆT THỊ VÌ BỎ CHỒNG CỦA DANH CA NỨC TIẾNG (14/04/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 2007690
Trong thang Trong tháng: 234706
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 99886
Truc tuyen Trực tuyến: 3

...

...

Designed by VietNetNam