TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Tư liệu
ĐẾN VỚI “TINH HUYẾT” ĐẾN VỚI MỘT THẾ GIỚI THƠ MƠ ẢO
ĐẾN VỚI “TINH HUYẾT” ĐẾN VỚI MỘT THẾ GIỚI THƠ MƠ ẢO
LÊ HỒNG HẢI
Phong trào Thơ mới là một phong trào lạ, tỏa ánh hào quang lộng lẫy, với nhiều tên tuổi chói sáng như: Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê. Phong trào thơ này đã tạo ra thành một thời đại trong thi ca, như lời vinh danh của Hoài Thanh-Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam.
PGS. Hồ Thế Hà, nhà nghiên cứu văn học đã hết lời khen ngợi: “Thời đại thi ca này đã tiếp biến văn hóa văn học, tạo những phức điệu, phức cảm kỳ diệu trong từng hình tượng thơ. Nó đã đến đỉnh cao của sự sáng tạo và đã kịp chuyển hướng thành những nhóm, những trường phái mới, để nó không bị cũ và lập lại chính mình”[1].
Xin mời độc giả hãy đọc:
“Tôi với anh không biết nhau bằng mắt
Nhưng hai tim đều lắng tiếng âm ty
Với lệ máu cùng mờ xa muôn sắc
Hai tim thôi đều yêu lỉm trong si”.
(Thời gian)
Đây là một đoạn thơ trong bài Thời gian, một trong chùm ba bài thơ gồm: Thời gian, Ảnh ấy và Thi tứ mà Bích Khê gửi cho Hàn Mặc Tử, đã khiến Hàn Mạc Từ sửng sốt “vì một thiên tài đương sắp sửa”… và sau nó một Tinh huyết ra đời, sẽ được đông đảo người yêu thơ thừa nhận, Hàn Mặc Tử, người anh lớn, người bạn thơ không tiếc lời vinh danh trong phần Tựa cho tập thơ ấy: “Một bông hoa lạ nở hương, một thứ hương quý trọng, thơm đủ mọi mùi phước lộc. Ta có thể so sánh thơ Bích Khê như đoá hoa thần dị ấy”[2]. Một lời vinh danh, ca ngợi không quá lời, đối với một tuyệt phẩm như Tinh huyết và xứng đáng cho nỗ lực không ngừng nghỉ của nhà thơ Thu Xà và chính nỗ lực không ngừng nghỉ và khát vọng duy tân “lời truyền sóng chứa ngầm hơi thuốc nổ” đồng thời là sự kiến tạo. “Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới,/ Của lời thơ lóng đẹp hạt châu trong,/ Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng,/ Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng” đã tạo cho Tinh huyết nhiều điểm khác lạ, làm cho nó trở thành một thách thức lớn đối với các nhà thơ đương thời và mai hậu; một trong nhiều sự khác lạ mà độc giả và các nhà nghiên cứu có thể thức nhận được khi tiếp cận với Tinh huyết là: Thế giới nghệ thuật của Tinh huyết là một thế giới kỳ lạ, bí ẩn, rợn ngợp… làm cho cảm xúc của người đọc rung rinh theo từng con chữ.
“Đây bát ngát và thơm như sữa lúa
Nhựa đương lên sức mạnh của lòng thương
Mùi tô hợp quyện trong tô trăng lụa
Đây dạ lan hương đây đỉnh trầm hương
Đây bát ngát và hương như sữa lúa
Hồn xạ hương phơ phất ở trong sương”.
(Mộng cầm ca)
Thế giới kỳ lạ, huyền diệu ấy là một phức hợp của vô vàn những thế giới khác: thế giới thần tiên, thế giới trần tục và thế giới ma quái với những đặc trưng riêng biệt của nó tạo ra một màn hư ảo. Những thế giới này có khi hiện diện một cách riêng lẻ.
“Gió tiêu sẽ quạt buồn thanh tịnh
Về chốn thôn gia viếng mả tôi
Đầy cỏ xanh xao mây lớp phủ
Trên mồ con quả đứng im hơi”.
(Nấm mồ)
Sự xuất hiện đồng hiện của các thế giới, các chiều kích không gian, thời gian và các rừng biểu tượng dường như là một quy luật của Thơ Bích Khê. Vì vậy cùng một lúc người đọc lại chiêm ngưỡng nhiều cảnh huống khác nhau, trải qua nhiều cảm xúc khác nhau: chưa kịp rùng rợn vì đối diện với xương khô, sọ người thì đã choáng ngợp ngây ngất trước vẻ lóng lánh của châu ngọc, vàng bạc… chưa kịp rợn lên trong lòng sắc màu phàm trần đầy khoái cảm nhục dục đã phải đi đến chốn thanh cao, tinh khiết với cái uyên nguyên của sự vật. Người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác vì mình không tài nào nhận ra được chân diện đích thực của sự vật, và con người khi xuất hiện cũng là những “hư thể”:
“Những cặp môi cười gươm sắc lẹm
Choá lên không khí dội hương vang
Khoái lạc ửng hồng như quả gấc”.
(Bàn chân)
Hoặc như, cái sọ người trong thơ thi nhân, nó không tạo cho người đọc cảm giác rờn rợn như chiếc sọ người”. “Đem mau đây chiếc sọ người ứ huyết chiếc xương khô rợn trắng khí tinh anh” của Chế Lan Viên. Mà nó là một biểu tượng đa phân, là nơi hội tụ muôn vẻ: của hồn thơ, buồng xuân, bình vàng, chén ngọc, hồ nguyệt, trăng… phủ đầy hương, mỗi biểu tượng thơ tự phân thân ra thành nhiều biểu tượng thơ khác, cứ như thế biến ảo khôn cùng, các biểu tượng này là phức thể các ấn tượng, những cảm giác hồi tưởng, chiêm bao, huyền tưởng, tiềm thức và vô thức trùm lên không gian và thời gian, có chức năng gợi nghĩa chứ không phải để miêu tả.[3]
Thêm một ví dụ về sự biến hoá, xin độc giả hãy đến với bài thơ Đồ mi hoa để thấy được đặc trưng nghệ thuật này trong thơ Bích Khê; mới đầu thi nhân đem đến cho độc giả một đoá đồ mi: “Đây một đoá đồ mi ta đón lấy,/ Áp hồn hoa đem đặt giữa bài thơ”, là suối nguồn của trinh tiết, của tinh khiết; thế rồi, đoá đồ mi đột ngột biến thành giai nhân, thành tiên nương giá cao phẩm tiết”, “một tiên nương mừa tựa một giai nhân, ngửng đôi mắt chứa mùa xuân phẩm tiết”, thoắt một cái đã trở thành “anh hoa hồn vũ trụ”, với đủ đầy “tinh chất khí âm dương”, để rớt ngọc, nhả sâm… sau đó biến ra nhạc, ra hương, ra vàng, ra ánh sáng, ra ngọc ngà sa gấm.
“Đêm này đây ngời ngọc ngà sa gấm
Sắc đẹp vừa hiện giữa đoá đồ mi”.
Sự biến hoá ra tính siêu nghĩa “các vật nào đó có ý nghĩa rộng lớn hơn chính nó”. Độc giả sẽ “nhìn vào sự thực thì thấy chiêm bao, nhìn vào chiêm bao thì lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu”.[4] là vì vậy:
“Lầu ai ánh gì như lưu ly?
Nụ cười ai trắng như hoa lê?
Thuỷ tinh ai để lòng gương hồ?
Không gian xà cừ hay san hô?”
(Nghê Thường)
Thế giới thơ kỳ dị, huyền ảo đó được đan kết với các yếu tố thi ca, nhạc, hương, màu sắc, ánh sáng, ngọc, châu và các hình tượng trung tâm: hồn, máu, giai nhân, trăng… và luôn đặt trong các mối tương quan, tương hợp, kỳ lạ.
“Ta những muốn sầu thương thôi biểu lộ
Sắc trong màu màu trong sắc hân hoan
Ta nhưng muốn mùa đông nhường lại chỗ
Nhạc gầy hương hương gầy nhạc lan man”.
(Đồ mi hoa)
Tuy nhiên, trong mối quan hệ của sự tương quan đó Bích Khê có ý thức rõ ràng trong việc tạo ra hai thái cực trái ngược nhau, như chúng tôi có dịp đề cập khi nói về cái sọ người trong thơ ông ở trên.
Bích Khê đã chứng tỏ biệt tài của mình trong việc “làm sáng tỏ đối tượng bằng màu sắc hoặc trừu tượng hoặc cụ thể khi thì huyền mơ diễm ảo khi thì âm u chói chang”.[5]
Tạo ra một thế giới hư/thực chập chờn như vậy Bích Khê đã vận dụng một cách tài tình phương thức kỳ ảo, huyền thoại để định lượng đối tượng thẩm mỹ của mình, với một lòng tin đầy đủ về thế giới huyền diệu mà mình tạo ra, do sự chiếu sáng của những quan niệm nghệ thuật hằn sâu nơi tâm thức; nghệ thuật vị nghệ thuật, như Bauderlaire tuyên bố: Thơ ca là một cái gì đó hiện thực hơn, cái gì đó chỉ hoàn toàn thật trong một thế giới khác, cái thế giới đó hiện diện cái nhìn đầy cảm xúc của người nghệ sĩ[6]. Trong thế giới này người nghệ sĩ là “người Mơ, người Say, người điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát hiện tại. Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa. Tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý”[7]. Do vậy, khi tiếp cận với thế giới những biểu tượng bí ẩn tượng trưng của Bích Khê, người đọc một mặt vừa thấy có sự trùng khít ý nghĩa với những biểu tượng nguyên thủy, một mặt lại thấy sự khác biệt thật lớn. Một điều vốn chú ý ở đây là, một thế giới nghệ thuật thơ đầy huyễn tưởng như vậy lại không làm người đọc thức nhận những giá trị văn hoá dùng trong việc phân chia ranh giới giữa thiện/ác, tốt/xấu, cao cả/thấp hèn… không giúp người đọc đưa ra kết luận về sự phải thắng thế của lẽ phải, phù hợp với những tiêu chuẩn cảm nghiệm do môi trường văn hoá quy định, mà lại đưa người đọc đến một sự tham chiếu, quán tưởng về một sự hoà đồng các thế giới để chiêm nghiệm những trải nghiệm của mình trong quá trình sinh tồn nơi cuộc sống xã hội
‘‘Mộng rất xanh, mộng rất xanh, rất xanh,
Choáng thời gian vây mòn thời thục nữ,
Hồn đê mê trong khi lòng giận dữ.”
[…]
‘‘Và sắc lẻm như thanh gươm vấy máu.
Những đôi mắt kho tàng muôn châu báu
Có những hàng đũa ngọc gắp hương yêu.”
(Sắc đẹp).
Người đọc đã thấy khao khát hoài vọng cái mới, cái đẹp, cái gì rung động chàng đến tên liệt dại khờ, dù cái đẹp có cao cả hay đê tiện, tinh khiết hay dơ bẩn, miễn là có tính chất gây nên những đê mê khoái lạc[8]. Để làm được điều này Bích Khê không chỉ “húc dầu vào nhiều cánh cửa, vái đủ tứ phương, áp dụng các thuyết của Valery, Rimbaud, Mallarme, Poe, Baudelare và của vị “thiên sứ Công giáo” là Henry Bremond”[9]; mà còn đi về với cội nguồn văn hoá phương Đông và Việt Nam và tạo ra thứ tư duy tích hợp.
Thế giới hư ảo, huyền hoặc kỳ bí của Tinh huyết là một sự giãi tỏ, là tiếng lòng đi tìm sự tri ân, tri kỷ, là một mơ cuồng nhưng cũng là một kiểu bù đắp những thiếu thốn trong cuộc sống cho đồng loại của mình… Bởi vậy ở mức độ này hay mức độ khác, ít hay nhiều hậu thế vẫn cần đến Bích Khê, vì đâu đó trên đường đời ta vẫn thấy Bích Khê đi đi về về trong bóng nguyệt, nơi làn ranh giữa thực và mơ ảo.
“Sau nghìn thu nữa trên trần thế
Hồn vẫn về trong bóng nguyệt soi”.
[1] Hồ Thế Hà, Những khoảnh khắc đồng hiện, Nxb Giáo dục, 2006, tr.86.
[2] Hàn Mặc Tử, tựa Tinh huyết, trong Bích Khê - Tinh huyết, Nxb Hội Nhà văn, 1995, tr.9,10.
[3] Đỗ Lai Thuý, Con mắt thơ, Nxb Giáo dục, 2002, tr 200.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.