Nhân kỷ niệm 95 năm sinh nhà thơ Bích Khê (1916 – 2011) và 65 năm Bích Khê từ giã cõi đời (1946-2011), từ chiều ngày 30/12/2011, Hội VHNT Quảng Ngãi cùng gia đình sẽ tổ chức lễ tưởng niệm và đêm thơ nhạc tại nhà thờ Bích Khê (Thu Xà, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi). Bichkhe.org xin thông báo để những người mến mộ Bích Khê đến tham dự.
Em cũng là một người khá yêu thơ, vừa rồi lật lại mấy trang thơ của nhà thơ Bích Khê, nhất là bài thơ Tỳ Bà của ông đã để lại trong em rất nhiều cảm xúc. Em có viết một bài thơ, và tất nhiên nó chỉ đơn thuần là cảm xúc chứ không thay cho lời bình.
Nhiều bài thơ của Bích Khê cho ta cảm giác đó là những ngọn núi hiểm trở. Người leo không chỉ khó lần tìm được đường lên đỉnh (tức xác định được cái tứ của bài thơ) bởi luôn vấp phải cành lá ngôn từ rậm rạp, chữ nọ lấp bóng chữ kia, mà họ còn mệt mỏi bởi các bậc đá cheo leo, ngoắt nghéo của giai điệu… Đọc thơ Bích Khê, nhiều lúc ta không khỏi có cảm giác của người thiếu dưỡng khí bởi phải đi lâu dưới các tán lá âm u. Nói như Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”, thơ Bích Khê nếu “đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc”. Còn đọc nhiều lần hơn thế? Hẳn nhà phê bình không đủ độ… kiên nhẫn, hoặc giả ông không có hứng?
Thơ tức là người, qua thơ hiểu được con người thi nhân. Hàn Mặc Tử và Quách Tấn, Bích Khê đã từng bước vào chốn “cung vàng điện ngọc” khuôn thước nghiêm ngặt của thơ Đường luật.
Chịu ảnh hưởng sâu sắc của trường phái thơ tượng trưng Pháp, Bích Khê đã có những cách tân khá táo bạo về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp... nhằm tạo cho thơ mình thứ nhạc điệu "như những câu thần chú" dẫn thơ vào cõi quên, cõi mê. Đặc biệt, các đặc trưng ngữ âm của tiếng Việt đã được ông tổ chức một cách có dụng ý để âm thanh không còn là cái vỏ trống rỗng mà có giá trị biểu trưng, tạo nên sự cộng hưởng giữa âm thanh và ý nghĩa.
Nhưng từ khi trì tụng kinh A Di Đà, chàng trở nên vui vẻ và mong được sớm về cõi Tây phương. Đó là khoảng mùa đông năm Ất Dậu (1945). Chàng thường nói cùng người chị thân yêu nhất của chàng là bà Ngọc Sương, rằng: - Em sắp về quê, nơi quê hương Cực lạc, hoa muôn thơm nghìn sáng, và chim biết thuyết Pháp tụng kinh. Chàng nói một cách vui vẻ và tin tưởng.
Ba mươi mốt năm trần thế, một thể chất mong manh, một trái tim nhạy cảm. Tình yêu hay thời cuộc, tiếng dội nào cũng đều làm ran ngực trẻ. Bích Khê đã chọn nhận và khước từ. Chỉ có cuộc hôn phối với thơ ca là vĩnh viễn. Với thơ ca, chàng đã giữ được thế cân bằng để đi đến đích. Cả trong thơ và trong đời, Bích Khê như một người đạt đạo ở tuổi ba mươi.
Thơ Bích Khê là thơ của âm thanh và màu sắc.Thi nhân bắt âm thanh liên kết lại theo những quy luật ngữ âm nhất định để phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của mình. Với Bích Khê, vỏ âm thanh của ngôn ngữ có khả năng mã hóa cuộc sống, thậm chí xây dựng được hình tượng cuộc sống bằng chất liệu âm thanh. Thi nhân ý thức khai thác triệt để tất cả các quy luật ngữ âm của ngôn ngữ. Đó là nét độc đáo trong thủ pháp nghệ thuật của Bích Khê và làm nên phong cách nghệ thuật của thi nhân.
Nói đến Rimbaud thì phải nói đến Verlaine, nói đến Xuân Diệu thì phải nói đến Huy Cận, và lẽ tất nhiên khi nói đến Hàn Mặc Tử thì không thể quên đi Bích Khê. Bởi lẽ, đó là những đôi bạn thơ khá nổi tiếng và sự nghiệp văn học của họ đã có nhiều ảnh hưởng đến tiến trình văn học.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.