TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
CHẤT TRỮ TÌNH CỦA TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM QUA NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
CHẤT TRỮ TÌNH CỦA TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM QUA NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
Sơn Trần
Trên văn đàn công khai mười năm trước Cách mạng tháng Tám, tên tuổi Thạch Lam còn chìm khuất sau một số tên tuổi nổi trội khác song cũng đáng chú ý và trân trọng. Thạch Lam viết truyện dài và truyện ngắn nhưng tài năng của ôngnhư nhà văn Nguyễn Tuân đánh giá thì “Khi nói đến Thạch Lam người ta vẫn nhớ đến truyện ngắn nhiều hơn là truyện dài”(1) và “Một số truyện ngắn của Thạch Lam có thể coi như là mẫu mực được”(2).
Hòa cùng dòng chảy của con sông Tự Lực văn đoàn thời kỳ Mặt trận dân chủ, Thạch Lam đã “lặng lẽ hướngngòi bút về phía những người nghèo khổ với tấm lòng trắc ẩn thương xót chân thành”. Và với trái tim hiểu đời sâu sắc và “điềm tĩnh vô cùng ông đã chuyển tải tỉ mỉ những cái rất nhỏ và rất đẹp, những cảm tình cảm giác cỏn con nảy nở và biểu lộ đủ các hạng người, mà ông tả một cách tinh vi”(3).
Dưới con mắt Thạch Lam, đời sống của những người lao động cùng khổ nhất ở nông thôn và thành thị và đời sống của những tiểu tư sản nghèo được trực tiếp đưa vào tác phẩm với niềm xót thương và sự cảm thông vô hạn. Đặc biệt là người phụ nữ và trẻ em nghèo. Điều này một mặt phụ thuộc vào cái nhìn, cách cảm của Thạch Lam trước cuộc đời, trước con người. Mặt khác, nằm trong quan niệm nghệ thuật của ông. Đó là quan niệm về cái đẹp mà suốt quãng đời ngắn ngủi ông luôn đi tìm và chắt chiu từng mẫu nhỏ. Một thế giới bình dị nhưng đa dạng. Khác với Ngô Tất Tố, Nam Cao, không khí truyện Thạch Lam ít ngột ngạc và cùng quẫn. Nó tĩnh lặng và thăng trầm. Trong đấy, thiếu đi cái bề bộn dữ dội của cuộc giao tranh giai cấp, cái đói và cái chết, sự tha hóa diễn ra trong đời sống. Bởi Thạch Lam tin rằng: Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường. Cái đẹp chăm chú phát hiện chính là cái đời sống bên trong, đời sống tâm hồn – đó là tình thương, lòng trắc ẩn, sự vị tha, giữa người với người, giữa người với loài vật.
Vâng, Thạch Lam là nhà văn có khả năng tái tạo những rung động tâm hồn con người nhiều khi chỉ “khẽ như cánh bướm”. Cái khả năng ấy chỉ có thể có ở một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế cao độ. Bằng sức mạnh trực giác, văn Thạch Lam trong sáng mà không đơn giản, đa nghĩa mà vẫn tự nhiên. Điểm nổi bật của văn ông là lối văn có nhịp điệu, không gấp gáp, xô bồ mà tự tại – đó chính là nhịp điệu tâm hồn con người trong sự hài hòa với xã hội, thiên nhiên. Chúng ta cùng tìm hiểu một số nghệ thuất được Thạch Lam sử dụng để làm sáng tỏ cái được gọi là “nhịp điều tâm hồn con người” trong truyện ngắn của ông.
Mô típ quen thuộc hay là một kiểu cấu trúc truyện trở đi trở lại trong truyện Thạch Lam là nhịp cầu tâm tưởng giao nối giữa thôn quê và thành phố: “Dưới bóng hoàn hôn”;“Trở về”; “Người bạn trẻ”; “Tình xưa”; .... tần số xuất hiện và sự lặp đi lặp lại các chủ đề và cấu trúc ấy có vẻ vô thức và tự nhiên nhưng lại hé mở cho ta nỗi ám ảnh khắc khoải trong ý thức và tâm hồn Thạch Lam. Với ông bối cảnh thành thị chưa hề đưm lại hạnh phúc cho nhân vật: “Tối ba mươi”; “Đói”; “Người bạn trẻ”;... hoặc đó là nơi con người đang đánh mất mình : “Sợi tóc”; “Một cơn giận”; “Người bạn cũ”;... Còn cái khung cảnh thôn dã kia là cuộc sống tối tăm ngưng đọng sau lũy tre xanh. Mùi đất quê hương ẩm mốc, cũ kỹ, cái bùa vóc nhiễu xanh đỏ quê mùa chỉ làm tan vỡ nhanh thêm một mối tình mới chớm: “Tình xưa”. Sau vầng ánh sáng chói lòa của chuyến tàu vượt qua, hai chị em Liên lại âm thầm sống với những đốm lửa đèn dầu hét hiu của phố huyện tồi tàn.
Dường như trong hàng loạt truyện ngắn: “Nắng trong vườn”; “Đêm sáng trăng”; “Trở về”; “Tình xưa”... Thạch Lam đã tạo ra sự ngăn cách vô hình những khắc nghiệt giữa thành thị với nông thôn qua chuyện tình yêu giữa những cô thôn nữ với những chàng trai tỉnh thành. Bởi vì, Thạch Lam nhận thấy từ đầu, hình như cái khoảng cách ấy, không dễ gì xóa bỏ được nên những mối tình dù say đắm đến đâu cuối cùng đều dẫn đến chia ly, mà không chia ly thì cuộc sống cũng đầy những bất hạnh.
Tìm hiểu truyện ngắn Thạch Lam viết về người tiểu tư sản, người ta thấy nhà văn thường trở đi trở lại mô típ này: Người tiểu tư sản thành thị vốn lớn lên ở quê nay trở về thăm lại quê hương, sống lại với cảnh cũ ngày xưa : “Trở về”; “Dưới bóng hoàng lan”; “Cuốn sách bỏ quên”; “Người tình cũ:... Phần lớn nhân vật trong mô típ “Trở về quê hương” đều có tâm trạng thiết tha gắn bó với cảnh cũ người xưa. Họ tìm thấy ở quê hương, nơi họ từng sinh ra và lớn lên có nhiều vẻ đẹp tượng trưng cho sự trong sạch và bình dị trong tâm hồn nhưỡng người lành mạnh.
Mặt khác, trong truyện Thạch Lam, người ta còn bắt gặp hình ảnh phố huyện, chợ huyện: “Hai đứa trẻ”; “Cô hàng xén”; “Nhà mẹ Lê”... Đó là một bức tranh về cuộc sống của dân nghèo trong xóm chợ nơi ngoại ô, ngõ hẻm không hề được phủ bằng một màn sương thi vị. Những số phận nhọc nhằn bi đát với một viễn cảnh mờ mịt đen tối vẫn là kết cục chung cho hầu hết các tác phẩm viết về người nông dân lao động khổ cực của Thạch Lam. Cái chết mẹ Lê để lại đàn con gầy còm ngơ ngác là một kết cục bi thảm.
Đôi khi, cốt truyện Thạch Lam nhẹ nhàng nhưng ẩn sâu bên trong là một khoảng lặng để người đọc tự tìm hiểu. Đó là tâm trạng hai cô gái giang hồ trong: “Tối ba mươi”. Họ dường như chỉ biết cúi đầu trước số kiếp và chai lì mọi cảm xúc vì phải lấy thân xác ra làm hiện vật buôn bán trong cái xã hội mà tiếng nói của đồng tiền là tiếng nói duy nhất. Hơn nữa, trong một số truyện thuộc vào dạng hay nhất của ông, kết thúc truyện tô đạm cái quá trình bần cùng không lối thoát của nhân dân lao động trong xã hội cũ :”Cô hàng xén”; “Đói”; “Hai đứa trẻ”...
Cách sắp xếp cốt truyện Thạch Lam đơn giản, ít kịch tính. Người đọc theo dõi câu chuyện thông qua diễn biến tâm lý của nhân vật. Những nhân vật Thạch Lam cũng lặng lẽ, u buồn sống khép mình trong cái thế giới nhỏ nhoi không có gì gọi là hạnh phúc.
Theo Thạch Lam “ Nhà văn có biệt tài là nhà văn đã diễn tả đúng và thấu đáo cái tâm lý uyển chuyển của con người(4). Đã là nhà văn – nhà nghệ sĩ cần có con mắt tâm hồn để soi thấu bộ mặt tâm hồn. Chính điều này, ông dánh giá cao những người viết có khả năng “Tìm đén được cái bí mật không tả được ở trong mỗi con người”(5) và chán ghét thứ văn chương chỉ chú trọng đến những mối quan hệ bên ngoài.
Thế mới biết, Thạch Lam là nhà văn hướng nội. Hướng đi vào tâm lý rất hiện đại. Với ông, tâm lý trở thành cái bí mật lớn nhất cần tìm hiểu. Khả năng phản ánh hiện thực của truyện ngắn tâm lý rất lớn. Tiêu biểu: “Hai đứa trẻ”... đây là loại truyện ngắn không có chuyện. Toàn truyện không hề có hành động phát biểu, xung đột mà chỉ toát lên một tâm trạng, tù đọng, mòn mỏi của hiện thực như đã tìm thấy một biểu hiện tuyệt vời. Nó toát lên từ không khí, khung cảnh, từ toàn bộ thiên truyện. Người đọc mỗi khi muốn hình dung ra đời sống tính thần của con người trước năm 1945 sẽ nhớ đến “Hai đứa trẻ”.
Môi trường sinh hoạt của nhân vật Thạch Lam hẹp, tách hẳn với thế giới rộng lớn bên ngoài cuộc đời. Họ thật bé nhỏ và tội nghiệp. Họ thường nép mình trong bóng tối của một không gian hẹp, thường tìm kiếm nơi ẩn nấu ấm áp trong gia đình, giữa bốn bức tường hoặc trong sân vườn – có nghĩa là tachs khỏi cuộc đời, khỏi xã hội đầy bất trắc bên ngoài. Từ đó, con người mới nhận hết về mình và về cuộc sông xung quanh. Dường như họ thu mình trước thực tại để xót mình và thương mình, để buồn rầu hồi tưởng về quá khứ. Họ không dám nhìn về tương lai mà mang nặng một mặc cảm mờ mịt trong lòng nghĩ về mai sau.
Mặt khác, Thạch Lam đã chứng tỏ tài năng và sự nhạy cảm tuyệt vời của mình khi để nhân vật đi trên ranh giới quá mỏng manh phân chia hai phần nhân tính và thú tính trong mỗi con người :”Sợi tóc”. Truyện “Một cơn giận”, ông lại phê phán tâm lý nhân vật từ một góc độ khác: Mặt sinh học của con người. Truyện mở đầu bằng câu : “Sự giận dữ có thể sai khiến người ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ”. Và khép lại bằng cảnh gia đình nghèo khổ kia tan tát mỗi người mỗi nơi. Tất cả do sự giận dữ không đâu của người gây nên tai họa. Tác gải mượn lời nhân vệt kết luận “Người ta có thể tàn ác một cách rất dễ dàng” thế hầu hết nhân vật truyện ngắn Thạch Lam nhiều phần không rõ tính cách, chỉ bộc lộ tâm trạng, những nét tâm lý. Đó là những nhân vật nội tâm hơn là những con người ngoại hiện. Họ có tâm hồn tinh tế, sống nhiều với chính mình, thường yên lặng để tự cảm về mình, giàu cảm xúc nhưng ít hoạt động.
Thạch Lam giàu lòng nhân đạo vơí những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh. Những con người nhỏ bé ấy bao giờ cũng được nhà văn bao bọc trong một không khí trữ tình đầy mến thương tỏa ra một cách dịu dàng. Dường như, ông luôn đắp bồi cho nhân vật cái phần tự ý thức tự cảm nhận, ông cho ta thấy con người phải vật vả để đứng vững hay không đứng vững nổi trước những xô đẩy may rủi của cuộc đời thế là. Ông lặng lẽ quan sát và trình bày những số phận đáng buồn ấy. Các nhân vật buồn cho mình, buồn thương cho nhau và nếu chưa kịp ý thức hết thì tấm lòng tác giả tỏa nhẹ một nỗi buồn thương cảm. Có thể nói, nhân vật Thạch Lam nghèo mà không hèn, sa ngã mà không sa đọa.
Hơn nữa thế giới nghệ thuật của Thạch Lam, tất cả đều hiu hiu, dạm dạm không có sự gói gắt, những vang động mạnh nhưng lại gợi bao ám ảnh về số phận con người, về sự tối tăm của các cảnh đời. Truyện ông có nhiều bóng tối, cái tối của hoàng hôn, cái ánh ngày tàn. Những mảng tối trên con đường làng mấp mô chân trâu, dưới bóng những rặng tre sẫm đen dần khi đêm xuống, trên con đường về nhà của “Cô hàng xén”. Những khoảng tối trên đường phố huyện, có chõng hàng của “Hai đứa trẻ”, dưới ánh trăng le lói là cảnh quang của ngọn đèn dầu và những khoảng tối trong đem giao thừa “Tối ba mươi”. Dường như khung cảnh vào những giờ khắc để tạo ra ấn tượng ấy nó làm giọng văn Thạch Lam buồn. Một nỗi buồn man mác, thấm dần vào lòng người qua từng câu chữ. Giọng văn Thạch Lam buồn lắm. Nỗi buồn un đậm khắc khoải ở chỗ này, bàng bạc ở chỗ khác. Nỗi buồn là chiều sâu riêng của văn Thạch Lam.
Ngoài ra, truyện ngắn Thạch Lam dễ đọc, dễ hiểu nhưng không dễ quên. Ông luôn gây ấn tượng là ông không chủ trương viết văn mà chỉ kể lại với mọi người những câu chuyện buồn vui, xảy ra trong cuộc đời do chính mắt ông chứng kiến và ông ghi lại tựa như người “Thư ký trung thành của thời đại”. Giọng văn ông bình thản, không có sự bức phá xung đột mà giản dị, giản dị tới mức tưởng chừng như ai cũng có thể viết được. Tuy không quyết liệt những chữ nghĩa hình tượng như óc một ma lực bắt ta phải suy ngẫm về những con người bất hạnh như mẹ Lê (Nhà mẹ Lê), như Hiên (Gió lạnh đầu mùa), như Sen (Đứa con)... chính là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ của Thạch Lam.
Từ một vài dẫn liệu, ta có thể rút ra nhận xét: Khắp các trang truyện của Thạch Lam hầu như là sự sắp xếp những ngôn từ, gợi cảm ở nhiều cấp độ kahcs nhau, tưởng chừng mơ hồ mà rất thực giúp người đọc hình dung cuộc sống đa diện, không chỉ ở bề mặt mà ở cả chiều sâu, không chỉ ở cái có thể nhìn mà còn có ở những cái khó lòng tìm thấy. Thật vậy, trong văn ông chũng ta dễ dàng tìm ra hàng loạt hình dung từ biểu cảm. Đi liền với những hình dung từ biểu cảm là những cụm từ chỉ một trạng thái của sự xác định và không rõ ràng. Sự kết hợp của hai loại từ này trong từng cãn cảnh cụ thể đã làm cho câu văn Thạch Lam đọng lại rất trong ta ấn tượng rõ nét về những cảm giác hết sức tinh tế và giàu có. Đó chính là ngôn từ truyện ngắn Thạch Lam, là văn phong Thạch Lam cũng là cá tính sáng tạo của Thạch Lam.
Tóm lại, nếu giọng điệu và ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Công Hoan mang tính hài hước châm biếm thì giọng điệu và ngôn ngữ truyện ngắn Thạch Lam nhiều chất trữ tình. Mỗi truyện ngắn của ông có cấu trúc và giọng điệu như một bài thơ trữ tình, gợi sự thương cảm trước số phận của những con người bé nhỏ hiền lành mà bất hạnh. Một giọng văn bình dị mà tinh tế ưu ái. Đọc Thạch Lam ta thấy lời văn: “Ở những truyện tiêu biểu vẫn cứ mềm mại, uyển chuyển, giàu hình ảnh, nhạc điệu mà không mất đi vẻ giản dị, tinh gọn, không thừ thải lời chữ (...) câu văn Thạch Lam cứ như câu văn của ngày hôm nay”(6)
-------------------
Chú thích:
(1,2) : Nguyễn Tuân “Tuyển tập Thạch Lam” Nhà xuất bản Văn Học H. 1988.
(3) : Vũ Ngọc Khoan “Nhà văn Việt Nam” NXB Khoa học xã hội H. 1989.
(4,5) : Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học H. 1988.
(6) : Phong Lê : Lời giới thiệu “Tuyển tập Thạch Lam” NXB Văn học 1988.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.