• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975

CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975



NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 21 Tháng 2, 2026 lúc 12:57

 

1. Mở

Không biết có nơi nào trên cõi nhân gian, chiến tranh lại gắn liền với phận số dân tộc trong suốt hành trình dựng nước và giữ nước, ám ảnh biết bao thế hệ, cả những người sinh ra hoặc không sinh ra trong chiến tranh như dân tộc Việt Nam. Và, như một tất yếu, thân phận người lính – những con người, theo thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn đã: “mắc bệnh ung thư thời chiến” là thành phần không thể không nói đến khi luận bàn về cuộc chiến. Vì vậy, cảm thức về chiến tranh và người lính là một trong những dòng chủ lưu của thơ miền Nam 1954-1975, thu hút nhiều người cầm bút, dù họ là người lính hoặc không là người lính. Bộ phận thi ca này có vị trí đặc biệt trong đời sống văn học miền Nam, luôn có sức lôi cuốn và ám gợi người đọc ở những năm chiến tranh, kể cả khi đất nước hòa bình. Bởi, trong những ngày binh lửa của chiến cuộc, có gia đình Việt Nam nào lại không có người tham chiến ở phía bên này hoặc bên kia!? Cảm thức chiến tranh và người lính, vì thế đã trở thành một nỗi ám ảnh của vô thức và tâm linh trong tâm cảm người Việt và đi vào trong thơ như một tâm thức hiện sinh làm nên một hệ giá trị riêng có trong di sản văn học miền Nam 1954-1975. Bởi, xuất phát từ tâm cảm trong hành trình sáng tạo của nhà thơ, những thi phẩm này đã thể hiện khá chân thực cảm thức về chiến tranh và người lính với một cái nhìn đa diện đa chiều, Thế nên, việc nghiên cứu vấn đề Cảm thức chiến tranh và người lính trong thơ miền Nam 1954-1975, thiết nghĩ không chỉ có giá trị khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn khi nhìn nhận lại mảng văn học viết về đề tài chiến tranh trong tiến trình vận động của nền văn học hiện đại nước nhà, trong đó có di sản văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975.

2. Biểu hiện của cảm thức chiến tranh và người lính trong thơ miền Nam 1954-1975

       2.1. Bi kịch chiến tranh, nỗi ám ảnh hiện sinh trong thơ miền Nam 1954-1975

Chiến tranh bao giờ cũng đi liền với sự tàn phá, hủy diệt. Đó là những mất mát đau thương mà con người phải gánh chịu như một bi kịch của định mệnh dân tộc. Thơ miền Nam 1954-1975 viết về chiến tranh, trước hết là ghi lại những bi thương, mất mát trước sự hủy diệt của đạn bom đối với đời sống vật chất và tinh thần của con người mà điều đau thương nhất là cướp đi sinh mạng biết bao người và bi kịch cũng khởi đi từ đó. Bài thơ “Mùa xuân nói xuống” của Thành Tôn (Giữ thơm quê mẹ số 7-8 /12 /1966) đã thể hiện khá chân xác về hiện thực thương đau đó: “tiếng khóc mẹ bay lên thành nỗi nhớ/ theo khói hương rợp nấm cỏ mùa xuân/ cha nằm xuống tan tành cơn súng nổ/ trên quê hương cuộc chiến thấm loan dần/ đất màu mỡ thiếu bàn tay cày cuốc/ nên ruộng đồng cỏ dại đã hoang vu/ cha dưới đó có đau từng khúc ruột? …”. Còn đây là nỗi bi thương của phận người trong cuộc chiến, được Nguyễn Mạnh Song Ka thể hiện ở bài thơ “Lời xin với trời” (Giữ thơm quê mẹ số 11/5/1966): “xin một tiếng khóc trẻ thơ trên chiếc xe mang xác người cha/ xin những vì sao sáng hoài như một trời đèn màu/ cho lãng quên đến thật mau trên vành khăn tang người vợ”.

Không chỉ là “Lời xin với trời”, Thi Vũ trong thi phẩm: “We two form a multitude” (Giữ thơm quê mẹ số 2/8/1965) đã thể hiện niềm suy cảm của mình về những mất mát đau thương trên quê hương trước sự tàn phá của chiến tranh với biết bao ưu tư, khắc khoải: “những mái nhà quê hương bỗng nhiên biến thành đôi mắt/ khóc dầm dề nước mắt lửa không nguôi/ bao kẻ thân yêu bao người làng xóm/ sống không nhà/ và chết không nơi chôn”. Và những niềm khắc khoải ưu lo trong thơ Thi Vũ, khi chứng kiến sự hủy diệt khủng khiếp của chiến tranh đối với sự tồn sinh của đồng bào mình cũng là cảm xúc chủ đạo trong nhiều bài thơ viết về chiến tranh ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975.

Đó là các bài thơ “Chiến tranh nỗi bi thảm của quê hương” (Giữ thơm quê mẹ số 2/ 8/1965) của Định Giang “… xác thân rã mục điêu tàn/ quê hương lửa đạn vô cùng đăm chiêu/ môi hôn nước mắt tình yêu/ thân xem vết đạn nghe nhiều đắng cay/ đêm đi giọng hát quê nghèo/ tiếng ru bom đạn đẳng đeo quanh mình/ em từ tiếng nấc hồi sinh/ niềm đau hằn vết trên mình trẻ thơ/ 20 năm mãi đến giờ/ quê hương bạc mệnh vẫn ngờ chiêm bao”; Hay thi phẩm “Niềm tin thắp sáng” (Ý Thức số 2/ 1/10/1970) của Thụy Văn: “Ai đi qua đường khóc than kể lể/ Áo chùng sô trắng buổi chiều buồn/ Thôi hãy đành người chết nằm yên/ Đồi vắng ghi phần mộ mới/ Cành mọc chồi đau thương quá đổi/ Cây già đất mẹ cỏ úa tàn”; Hoặc bài thơ “Người đàn bà trẻ gặp sau ngày binh biến” của Võ Tấn Khanh (Ý Thức số 18 -19 / 15/7/1971): “Tôi gặp chị sau ngày binh biến/ tay bồng con đầu chít khăn tang/ rưng mắt chị bắt đầu câu chuyện/- trời sao đành cay nghiệt đa đoan”; Và thi phẩm “Tặng vật” của Thái Ngọc San, Ý Thức số 11/15/3/1971: “Gởi lại bé thơ những dòng sông u uẩn/ những con tàu không nhà ga/ những đồng lúa đạn bom tàn phá/ gởi lại bé thơ những cánh chim chiều bay ngang nghĩa địa/ những mộ phần vô danh” … Có thể nói, các thi phẩm trên đã khắc họa những thảm trạng khác nhau về nỗi bi thương của người dân Việt trong cuộc chiến. Và đây cũng là những bình diện bi kịch như nỗi ám ảnh hiện sinh thể hiện ở thơ miền Nam 1954 -1975, khi nghĩ về phận số dân tộc trong chiến tranh.

Quả thật, viết về bi kịch chiến tranh với những mất mát đau thương do sự tàn phá của đạn bom là điều không giấy mực nào tả hết được. Song, có lẽ bi kịch đớn đau nhất mà con người phải gánh chịu như một sự phi lý trong chiến tranh đó là cái chết. Đây chính là sự ám ảnh mãnh liệt nhất chi phối thi giới chiến tranh ở miền Nam lúc bấy giờ mà bài thơ “Tên người yêu dấu” trong tập thơ Tôi không còn cô độc (Hợp Lực Xb.,1956) của Thanh Tâm Tuyền là một minh chứng: “Canh bạc về khuya/ Viên đạn lăn đã mỏi/ Chiếc đĩa quay không ngừng/ Rồi đó bệnh tật và nghèo đói/ Trở về căn nhà chúng ta/ Chăn chiếu héo khô/ Giống chiếc quan tài của Thoại/ Khóc đi Nguyễn/ Trong giấc mộng hằng đêm”. Hay những hình ảnh đầy ám gợi về nỗi đau phận người hiển hiện qua cái chết trong thơ Tú Hạp: “Năm mới chạy giặc lầm than/ nước mắt bà mẹ già nua nhỏ trên xác con/ đạn còn ghim trong buồn phổi/ em bé thơ chết cứng miệng còn ngậm vú mẹ/ và bà mẹ nó cũng đã chết vì mảnh lựu đạn tự bao giờ…” (“Lời chúc đầu năm Mậu Thân”, Văn số 100 và 101, 1/3/1968).

Còn đây là một cái nhìn khác cũng không kém phần bi thảm từ sự ám ảnh về cái chết trong chiến tranh với những hình ảnh thơ giàu tính biểu tượng: “Trong một ngày hòa bình/ Tôi sẽ mặc áo tang trở về dòng sông/ Trở về chiếc cầu mang nhiều huyền thoại/ Chiếc cầu với buổi sáng người đàn bà đội khăn sô đi sau quan tài khóc lóc/ (…) Ôi! Chiếc cầu hơn mười lăm năm phân ly không một ngày ngưng tiếng súng/ Trong một ngày hòa bình/ Tôi sẽ mặc áo tang trở về dòng sông/ Tôi sẽ mặc áo tang trở về chiếc cầu” (“Chiếc cầu và dòng sông” – Linh Phương). Và từ cái chết của từng phận người trong chiến tranh, Hoài Khanh đã khái quát thành nỗi đau như một bi kịch của cuộc chiến, trong hành trình lịch sử dân tộc: “năm hai mươi tuổi bỗng biết được tình yêu/ một chiều đưa người yêu ra nhìn dòng nước chảy/ khi hôn nàng trong mê cuồng sảng khoái/ bỗng lòng tôi vang động nỗi kinh hoàng (…) hốt nhiên tôi trực nhận dòng sông/chính là máu của ngàn năm tích lũy/ đã chảy hoài trong những cuộc chiến tranh kia” (“Tuổi trẻ và dòng sông” – Hoài Khanh, Văn số 16 ngày 15-8-1964).

Có thể nói, cảm thức chiến tranh và người lính đã tạo nên một xung năng dự phóng đối với hành trình sáng tạo thi ca của các nhà thơ miền Nam 1954-1975, dù họ thuộc thành phần nào. Vì vậy, Nguyên Sa một thi sĩ nỗi tiếng ở miền Nam về thơ tình và tưởng chừng, ông chỉ làm thơ tình, thế mà trong thi nghiệp của Nguyên Sa cũng có các bài thơ trĩu nặng ưu tư với những cảm thức về cuộc chiến mà bài thơ “Hai Mươi” (Thơ Nguyên Sa, Thương Yêu Xb., 1975) là một xác chứng. Ta hãy nghe Nguyên Sa tự vấn: “Tôi mang trên vai/ Tuổi hai mươi/ Như đời hai mươi thế kỷ/ Đời để quanh tôi những lao tù cơ cực/ Tuổi hai mươi chưa đến đã bay vèo/  (…) Tại sao?/ Tôi chẳng hiểu tại sao/ Cũng chẳng cần tìm hiểu/ Có thể đời đã để sau lưng tôi chiến tranh mù mịt/ cuộc sống đổi màu trong nước mắt phế binh/ Hay ở quanh tôi những đồn phòng ngự/ Đã biến tôi thành một gã lính canh thô bạo/ Đi giầy đinh dẫm nát linh hồn”.

Chiến tranh luôn đem đến cho nhân loại những bi kịch. Khi nghĩ về cảm thức chiến tranh trong thơ miền Nam 1954-1975, ta thấy bi kịch ấy không chỉ có ở Việt Nam mà là bi kịch chung của các dân tộc trên thế giới và người gánh chịu nỗi đau từ bi kịch ấy là những bà mẹ, nói như Abraham Lincoln – Cựu Tổng thống Hoa Kỳ: “Khi viên đạn xuyên vào một người lính dù thuộc bên nào đi nữa, thực ra nó đã xuyên vào trái tim một người mẹ”. Và điều này đã được  Hoài Khanh thể hiện khá sâu sắc và cảm động qua những hình tượng thơ giàu tính biểu tượng, có sức ám ảnh tâm thức người đọc trong bài thơ: “Ngày con tôi khóc” ở tập thơ Gió bấc, trẻ nhỏ, hoa hồng và dế (Ca Dao Xb., 1970):

“Những bà mẹ Âu châu chống bom nguyên tử/ Bằng những chiếc xe nôi và chai sữa/ Những bà mẹ Phi châu/ Mầu đó đen thêm vì những đứa con/ Chém giết tương tàn trong cuồng điên phẫn nộ/ Những bà mẹ Mỹ Châu/ Giữa dllar và bụi phóng xạ/ Đau đớn không được quyền lựa chọn/ Khi lòng mình chỉ có một tình thương/ Mong con cái sau này lớn lên hạnh phúc/ Những bà mẹ Á Châu đau khổ của tôi/ Đâu còn điệu ru con đêm trăng Hương thanh bình trên đồng xanh bát ngát/ Chiến tranh rồi chiến tranh/ Giải đất nghèo nàn này quê hương tôi/ Mỏi mòn tháng ngày qua/ Những buổi chiều xám/ Những đêm tóc tang/ Tiếng súng vọng từng hồi vang uất nghẹn”.

Hay trong bài thơ “Tiếng quê hương” (Giữ thơm quê mẹ số 4 /10 /1965), của Hoài Khanh, cảm thức bi thương này một lần nữa trở lại trong thơ ông như một lời tự vấn: “Quê hương tôi ở chốn nào/ Phải chăng Châu Á buồn đau ngút ngàn/ Mẹ hiền sớm chít khăn tang/ Mầu hương khói lạnh: đồng hoang chiến trường”. Còn đây là cảm thức của Xuân Thao, khi nghĩ về đất nước trong chiến tranh: “Hãy nhìn xuống quê hương này khốn khó/ Cây không xanh cho lịch sử thêm già/ Một dòng sông đen – như màu hắc ín/ Chảy căm hờn trong từng nỗi can qua (…) Đạn vẫn nổ xẹt ngang đầu Tổ quốc/ lửa chiến chinh làm cháy mặt xám mày/ Những hàng tre lòng âm thầm héo úa/ Như quê hương như đất mẹ đắng cay” (“Đất mẹ” – Giữ thơm quê mẹ số 6 /12 /1965).

Vậy đó, bất cứ cuộc chiến tranh nào dù nhân danh điều gì cũng không tránh được sự hủy diệt của nó đối với con người và tự nhiên mà tận cùng của sự hủy diệt, chính là cái chết oan uổng của bao phận người cũng như bao sinh thể trong tự nhiên đã bị nhẫn tâm tàn hại từ các loại vũ khí “hiện đại”, mà một số người “tự hào” là sản phẩm của “khoa học”, của “văn minh”. Điều này đã thể hiện khá chân xác như một bình diện của cảm thức về chiến tranh trong thơ miềm Nam 1954-1975. Song, nói về cảm thức chiến tranh trong thơ miền Nam, không thể không nói đến cảm thức về thân phận người lính trong chiến tranh, bởi đây là một phần không thể thiếu trong cuộc chiến.

    2.2. Thân phận người lính và sự biểu hiện cảm thức chiến tranh trong thơ miền Nam 1954-1975

Có thể xác quyết, trong mọi cuộc chiến tranh, người lính luôn là nhân vật trung tâm. Thơ viết về người lính, vì vậy luôn gắn với cảm thức về chiến tranh thể hiện qua những suy tư về cuộc sống và thân phận của họ trong cuộc chiến cũng là điều tất yếu. Bởi, với tư cách là những người bị “ném” vào cuộc chiến, hơn ai hết, họ hiểu được sự khốc liệt và gian khổ của chiến tranh mà họ gánh chịu như một bi kịch của định mệnh. Thế nên, tìm hiểu về cảm thức chiến tranh qua thân phận của người lính, không thể không nói đến thơ của những thi sĩ mặc áo lính, những người đã dự phần trong cuộc chiến như một nhân chứng của lịch sử chiến tranh. Và những điều này ta có thể tìm thấy ở các bài thơ của Linh Phương trong thi tập Kỷ vật cho em (Nxb. Động Đất, 1971). Có thể xác tín, Kỷ vật cho em là một bản tường trình trung thực nhất về thân phận của người lính miền Nam trong chiến tranh. Thế nên, sự xuất hiện của tập thơ trong đời sống văn học miền Nam những năm 1954-1975 không phải, không gặp những “sóng gió”, đối với người sáng tạo ra nó – Nhà thơ Linh Phương. Nhưng như Nguyễn Thị Thu Vân, người viết lời bạt cho tập thơ đã chia sẻ: “Thơ là hơi thở, thơ là trái tim. (…) Mỗi lời nói của nhà thơ là một giọt nước mắt. Trong cảnh huống này nhà thơ là một chứng nhân, một sinh vật biết nhìn và biết đau khổ. Vì thế không thể nêu lý do này hay lý do nọ mà kết tội nhà thơ phản chiến hay chủ bại. Chúng ta hãnh diện sống bên này dòng tự do, nên không ai có thể cấm đoán chúng ta mơ ước. Trường hợp nhà thơ Linh Phương cũng vậy, không ai có thể nhân danh một cái gì để chụp mũ, đó là điều vô lý. Linh Phương chỉ biết trình bày những sự bi thảm trước đám đông những tai nghe mắt thấy. Đó là điều hay. Đó là điều đáng được trân trọng (…) muốn biết rõ hơn, hãy đi vào thế giới thơ Linh Phương để thấy chiến tranh Việt Nam” (Linh Phương, Kỷ vật cho em Nxb. Động Đất, 1971, tr.81- 83).

Thân phận người lính trong chiến tranh đã được Linh Phương thể hiện khá chân xác trong Kỷ vật cho em. Đó là lúc, họ bước chân vào cuộc đời binh ngũ: “Giã từ tuổi mười tám bướm hoa tôi lên đường ra mặt trận/ Mẹ tiễn tôi qua cầu chữ Y đầy gió và nắng/ Với đôi chân trần liêu xiêu trên mặt đường nhựa bỏng” (“Ngày tôi ra mặt trận” – Linh Phương) với những ưu lo khi tuổi trẻ của mình bị chiến tranh đánh cắp một cách đau xót, buộc phải sống kiếp lưu đày trong vô định: “Tuổi trẻ tôi sinh ra thời chiến tranh/ Với giấc mơ màu đỏ/ Bềnh bồng trôi nổi/ Về đâu? / Về đâu bình yên? (…) Tuổi trẻ của tôi biết yêu và yêu rất vội/ Sợ kông kịp yêu đến ngày mai/ Sợ chiến tranh còn dài/ Đời người thì quá ngắn” (“Giấc mơ màu đỏ” – Linh Phương); Để rồi, những điều ước mơ bình thường trong cuộc sống cũng trở thành bất thường trong chiến tranh: “Làm sao đám cưới chúng mình được cử hành trong những năm thời chiến/ Khi chiếc cầu bị bom bỏ sập/ Khi chiếc xe hoa bị mìn nổ tung” (“Thời chiến” – Linh Phương). Và đó là những bi kịch của phận số người lính trong chiến tranh. Nhưng có một bi kịch khủng khiếp hơn, đó là khi người lính trở về trong phế tàn: “Bỏ lại chiến trường một cánh tay/ Cha mang ba lô về làng/ Ngực đeo huy chương đủ loại/ Giã biệt bao cánh rừng rực cháy/ Bao cánh rừng đạn bom/ Cha nghiêng người xuống bế con/ Bằng cánh tay còn lại” (“Khi người lính trở về”). Đọc bài thơ, lòng ta không khỏi thấy đắng chát trước bi kịch định mệnh mà người lính phải gánh chịu. Còn đây là một nỗi bất hạnh khác của người lính được Linh Phương trình hiện qua nỗi đau của người góa phụ, với những câu hỏi dồn nén bao sự thực nghiệt ngã băm nát lòng ta, khi đọc những câu thơ :“Em hỏi anh bao giờ trở lại/ xin trả lời mai một anh về/ Không bằng chiến thắng trận Pleime/ Hay Đức Cơ – Đồng Xoài – Bình Giả/ Anh trở về hàng cây nghiêng ngã/ Anh trở về hòm gỗ cài hoa/ Anh trở về bằng chiếc băng ca/ Trên trực thăng sơn màu tang trắng/ Mai trở về chiều hoang trốn nắng/ Poncho buồn liệm kín hồn anh/ Mai trở về bờ tóc em xanh/ Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt”. (“Kỷ vật cho em” – Linh Phương). Vì thế, Kỷ vật cho em của Linh Phương, là một bản tường trình chân thật, biểu hiện cảm thức về nỗi đau thân phận của người lính trong chiến tranh mà bom đạn đã cướp đi sinh mạng của họ một cách tàn nhẫn đến phi lý.

Và, bởi luôn sống trong những ám ảnh về sự bất hạnh quá lớn cả về thể chất lẫn tinh thần, không chỉ đối với bản thân mình mà còn đối với gia đình, với dân tộc trước hệ lụy của cuộc chiến nên hình ảnh người lính trong chiến tranh ở thơ miền Nam đã thể hiện những nét tính cách khá độc dị. Đó là những con người tuy sống “buông thả”, “ngông nghênh”, “bất cần đời” nhưng ẩn sâu bên trong cuộc đời họ là những đắng cay của bi kịch số phận. Điều này có thể tìm thấy trong tập thơ Chiến tranh Việt Nam và tôi (Đồng Dao Xb., 1972), của Nguyên Bắc Sơn mà bài thơ “Một tiếng đồng hồ trước khi lên đường hành quân” là một minh chứng: “Khi tao đi lấy khẩu phần/ Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao/ Chúng mình nhậu đế trừ hao/ Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng/ Mùa này gió núi mưa bưng/ Trong lòng thiếu rượu, anh hùng nhát gan/ Mùa này gió bão mưa ngàn/ Trong lòng thiếu rượu hoang mang nhớ nhà”. Và cuộc sống người lính trong chiến tranh qua cái nhìn của Nguyễn Bắc Sơn là một kiếp lưu đày trong sự ám ảnh của nỗi cô đơn thân phận: “Những thằng lính trẻ hào hoa/ lưu đày trong cõi rừng già núi xanh/ Lao mình vào cuộc phân tranh/ Tiếc thương xương máu sinh thành được ư”.

Vì vậy, hành động “bất cần đời” của họ là sự nỗi loạn hiện sinh thể hiện một thái độ phản kháng đối với hiện thực xã hội, khi họ nhận ra sự hữu hạn vô nghĩa của đời mình trong lửa đạn chiến chinh: “Mai ta đụng trận ta còn sống/ Về ghé sông Mao phá phách chơi/ Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm/ Đốt tiền mua vội một ngày vui/ Ngày vui đời lính vô cùng ngắn/ Mặt trời thoắt đã ở phương Tây” (“Mật Khu Lê Hồng Phong”). Và cái ngông nghênh của người lính trong thơ Nguyễn Bắc Sơn cũng là một bình diện biểu hiện cảm thức về người lính trong chiến tranh ở thơ ca miền Nam 1954-1975. Nhưng cảm thức ấy không chỉ có trong thơ Nguyễn Bắc Sơn mà còn hiện hữu ở một số bài thơ khác, trong thơ miền Nam viết về người lính mà bài thơ “Hành Quân” của Linh Phương là một chứng từ: “Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết/ Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn/ Đù má nhiều khi buồn hết biết/ Lo mãi sau này cụt mất chân/ (…) Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ/ Uống rượu say chửi đổng dài dài/ Bồ bỏ. Tức mình xâm bốn chữ/ “Hận kẻ bạc tình”trên cánh tay”. Song, dẫu “dữ dằn” là thế nhưng ẩn sâu trong tâm thức của họ vẫn chất chứa một suy niệm sống hồn nhiên và nhân bản, thể hiện qua hành động trân quí cái đẹp, nhất là cái đẹp của mỹ nhân: “Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng/ Xinh đẹp như con gái Sài Gòn/ Ta nổi máu giang hồ hảo hán/ Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân” (“Hành quân” – Linh Phương). Và, họ đã xử sự đúng tinh thần nhân văn của câu châm ngôn: “Đừng làm đau phụ nữ, cho dù chỉ bằng một cành hoa…”.

Sống hồn nhiên, nhân văn và ngang tàn là thế, song, trong tâm tư của người lính không tránh khỏi những ưu lo về một tương lai đen tối, mịt mù, buồn chán và vô vọng. Đây cũng là một biểu hiện của cảm thức về chiến tranh và người lính trong thơ miền Nam 1954 – 1975 mà bài thơ “Phiên gác” của Đynh Trầm Ca (Giữ thơm quê mẹ số 7-8 /12 /1966) là một xác chứng: “bây giờ ba giờ sáng/ sương xuống đầy trên vai/ anh đứng ghìm tay súng/ nghĩ nhiều về tương lai/ và cuộc chiến tranh này/ bỗng dưng buồn muốn khóc/ còn lâu lắm em ơi!/ mặt trời chưa muốn mọc/ mình xa nhau suốt đời  (…)  bây giờ 3 giờ sáng/ đêm đen vô cùng đen”.    Có thể nói, sự ám ảnh về cái chết của đồng bào, trong đó có cái chết của người lính cùng những mất mát tang thương trên quê hương, với một tương lai mù xám, vô vọng trong cuộc chiến là tiền đề hình thành tinh thần phản chiến và khát vọng hòa bình, như một biểu hiện minh chứng cho cái nhìn đa diện, đa chiều trong cảm thức về chiến tranh và người lính của thơ miền Nam 1954-1975.

   2.3. Tinh thần phản chiến và khát vọng hòa bình, một biểu hiện trong cảm thức về chiến tranh và người lính của thơ miền Nam   

   Một sự độc đáo và khác biệt, có thể nói như thế, trong cảm thức về chiến tranh và người lính ở văn học miền Nam 1954-1975, so với văn học miền Bắc cùng thời, đó là tinh thần phản chiến và khát vọng hòa bình. Điều này được thể hiện khá linh động trong thơ miền Nam mà tập thơ Chấp tay nguyện cầu cho chim bồ câu trắng hiện (1965) của Thích Nhất Hạnh là một minh chứng sinh động cho khát vọng này: “Hãy nghe tôi đây/ Tôi nói rằng tôi không công nhận/ cuộc chiến tranh này/ (…) Tôi ghét cả hai bên/ Tôi không theo Quốc gia/ Tôi không theo Giải phóng/ Tôi chỉ theo người cho tôi sự sống!” (“Ruột đau chín khúc” – Thích Nhất Hạnh). Điều lạ lùng là tinh thần phản chiến không chỉ thể hiện trong thơ của những trí thức, văn nghệ sĩ không tham chiến mà còn thể hiện trong thơ của những người lính trực tiếp tham chiến, tiêu biểu là tập thơ Kỷ vật cho em của Linh Phương với các bài thơ: “Làm vợ người cầm súng”, “Cho đứa con trai đầu lòng”, “Hoa kẽm gai”, “Giấc mơ màu đỏ”, “Khi người lính trở về”… và trong tập thơ Chiến tranh Việt Nam và tôi  của Nguyễn Bắc Sơn với các bài thơ: “Mật khu Lê Hồng Phong”, “Một tiếng đồng hồ trước khi lên đường hành quân”, “Tiệc tẩy trần của người sống sót”, “Căn bệnh thời chiến”, “Bài ca khổ nhục”…

Vì vậy, khi đọc thơ Linh Phương và Nguyễn Bắc Sơn, ta thấy tinh thần phản chiến và khát vọng hòa bình luôn hiện hữu trong thơ như một chủ âm chi phối cảm thức về chiến tranh trong hành trình sáng tạo thi ca của họ. Đó là tinh thần phản chiến và khát vọng hòa bình trong bài thơ “Hoa Kẽm gai” của Linh Phương:“… Anh ở đơn vị về Đồ trận bết bùn đất hành quân/ Nghe nước mắt mình rưng rưng/ Mín chặt môi để khỏi bật thành tiếng khóc/ Các em vẫn còn đi học nhưng vẫn biết đòi độc lập – tự do/ Biết đòi hòa bình dân chủ/ Dù bị tra tấn – tù đày/ Các em vẫn đi làm cách mạng/ Như buổi sáng hoa kẽm gai mọc đầy trên đất nước/ Bạn bè anh/ Có kẻ cụt tay – mù mắt/ Có kẻ cụt chân – chống nạn biểu tình (…) Nhưng thôi (…) Hãy nắm tay xích lại gần nhau/ Và cầu nguyện/ Một ngày hoa kẽm gai rụng tàn/ Một ngày hòa bình trên tổ quốc thân yêu”.

Bài thơ “Việt Nam quê hương tôi” là khúc tâm ca về tinh thần phản chiến qua việc thể hiện những hình ảnh bi thương trong cuộc đời người lính, khi: “Chàng và nàng âm thầm cúi mặt/ Khi đứa con trai tử trận trên chiến trường Việt Nam/ Khi đứa con gái bị bọn lính đồng minh thay phiên nhau hãm hiếp nằm chết lõa lồ trong phòng ngủ – đôi mắt mở trừng trừng tức tưởi”; Còn người lính chỉ là một phế nhân của cuộc chiến và ngày trở về phải sống trong bi kịch mà vết thương lòng còn nhức nhối hơn vết thương trên thân thể mình đang gánh chịu: “Bây giờ chàng chỉ còn một chân/ Chàng đi cắm dùi tìm ngôi nhà trú mưa – che nắng/ Nàng tự nhiên làm đĩ lấy tiền nuôi người chồng thương phế binh/ Bây giờ chàng và nàng không còn nước mắt/ Khóc con/ Khi đóa hoa lửa cháy trên bầu trời/ Đêm Việt Nam” (“Việt Nam quê hương tôi” – Linh Phương). Quả thật, đây là những câu thơ mang tinh thần phản chiến, có sức công phá mạnh mẽ vào sự phi lý của chiến tranh và hiện thực xã hội miền Nam lúc bấy giờ. Bởi, người lính cầm súng chiến đấu vì điều gì, để rồi cuộc đời của họ phải chứng kiến và gánh chịu những nỗi bất hạnh khủng khiếp đối với bản thân và gia đình như thế!?

   Với Nguyễn Bắc Sơn tinh thần phản chiến thể hiện trong thơ không phải là những câu hỏi, những lời tự vấn, những dằn vặt suy tư mà thể hiện một cách rõ ràng bằng hành động cụ thể mang tính phản kháng đối với cuộc chiến mà người lính – thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn cho là vô nghĩa: “Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi” và “lũ chúng ta sống một đời vô vị/ nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau”. Vì thế, nên thi sĩ đã xác quyết một cách rõ ràng: “Lúc này đây ta không thèm đánh giặc”, chỉ “Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc/ Thèm ngọt ngào giọng hát em xinh”; Rồi thi nhân lựa chọn một quyết định mang ý thức phản chiến mạnh mẻ mà trong bối cảnh xã hội miền Nam lúc bấy giờ, không phải ai cũng dũng cảm nói lên điều đó: “Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt/ Xin giã từ đời vũ khí huy chương/ Xin trở về như một kẻ hoàn lương/ Xin vứt hết xin bắt đầu lại hết” (“Tiệc tẩy trần của người sống sót” – Nguyễn Bắc Sơn). Bởi, với những khổ đau đến phi lý mà mỗi gia đình phải nhận chịu qua từng thân phận, như nhà thơ Nguyễn Văn Đệ đã chia sẻ trong bài thơ “Chiều cuối năm” (Ý Thức, số 14, 1/5/1971) với các câu hỏi đầy nhức nhối: “Cha kéo lê một kiếp đọa đày/ Con đi lính phơi thây ngoài chiến địa/ Bảo vệ ai? Bảo vệ gì? Mai mỉa! / Sông Sàigòn chảy về phía xa xa” thì việc các nhà thơ miền Nam thể hiện tinh thần phản chiến cũng là điều tất yếu.

      Thật vậy, chiến tranh và hòa bình là hai mặt của một vấn đề luôn tồn tại trong cuộc chiến ở miền Nam vừa qua. Vì vậy, trước những thảm trạng khủng khiếp của chiến tranh khi từng ngày, từng giờ chứng kiến cảnh “Người chết hai lần thịt da nát tan” (Trịnh Công Sơn) thì tinh thần phản chiến bao giờ cũng gắn với khát vọng hòa bình. Bởi, trong tâm thức của người dân miền Nam, trong đó có người lính, họ chỉ cầu mong ngày đất nước hòa bình: “Trước ngày anh vào lính/ Em không tiễn đưa anh bằng nước mắt/ Vì em vẫn còn hy vọng/ Ngày mai anh vào lính/ Ngày mốt xứ sở hòa bình” (“Trước ngày anh vào lính” – Linh Phương). Và bài thơ “Dòng sông Sài Gòn ngày nào” của Linh Phương chính là điểm sáng về khát vọng hòa bình, khi mà từng ngày, từng giờ thi sĩ đang chứng kiến những tổn thất của chiến tranh trên quê hương mình: “Qua bao dòng sông đạn bom/ Qua bao cánh rừng khô cằn cháy xém/ Ôi! Chiến tranh/ Chiến tranh mang niềm tin và hy vọng/ Một mai đất nước hòa bình/ Trên chuyến tàu thống nhất Bắc – Nam/ Anh còn sống trở về/ Được yêu em bằng tất cả tấm lòng/ Được làm thơ bằng cả tấm lòng/ Dù tấm lòng chưa đủ/ Giữa cuộc đời phù phiếm xa hoa/ Ôi! Cuộc chiến tranh mấy mươi năm/ Dài bằng thời gian chờ đợi/ Dài bằng nỗi đau và nỗi nhớ/ Của anh/ Của em/ Ôi! Anh vẫn mong những ngày tháng êm đềm/ Êm đềm như dòng sông Sài Gòn ngày nào/ Nơi chúng mình từng hò hẹn/ Một mai đất nước hòa bình” (“Dòng sông Sài Gòn ngày nào” – Linh Phương).

Khát vọng hòa bình của người lính trong thơ miền Nam lúc bấy giờ là một khát vọng với những ước mơ bình thường, thánh thiện nhưng cao đẹp và nhân văn, rất thực và cũng rất lãng mạn, đáng yêu: “Tôi muốn nói cùng em trong ngày hòa bình/ Ngày đám cưới cử hành những bất ngờ chết chóc/ Ngày em hân hoan mặc áo dài dạo phố/ Ngày em hân hoan ngồi trong rạp Rex xem phim lãng mạn ái tình/ Ngày em vui như trẻ thơ/ Ngày tôi buông súng theo bằng hữu xuống đường hát những bài ca dao Việt Nam/ Tôi muốn nói cùng em trong ngày hòa bình/ Ngày chúng ta yêu nhau/ Thật nồng nàn/ Ngày em nghỉ dạy học trò sinh con / Ngày tôi không còn mặc đồ quân nhân ở nhà nuôi vợ đẻ/ Thì em ơi!/ Xin em hãy nghe tôi nói cùng em về một ngày hòa bình” (“Trong ngày hòa bình” – Linh Phương). Và cùng với khát vọng hòa bình, là khát vọng đất nước thống nhất để được tự do ra Bắc vào Nam.

Đây cũng là một cảm thức đáng quí về tình tự dân tộc trong thơ miền Nam thời chiến mà ta có thể cảm nhận qua bài thơ “Trong ngày hòa bình” của Linh Phương, một thi phẩm chứa chan tình dân tộc, nghĩa đồng bào của một Việt Nam thống nhất: “Tôi muốn nói cùng em trong ngày hòa bình/ Ngày với chuyến tàu suốt từ Sài Gòn ra Hà Nội/ Ngày về thăm cửa ô Cầu Giấy/ Ngày về thăm đê Yên Phụ/ Về thăm dòng sông Hồng đục ngầu phù sa đỏ/ Thăm tình nhân bên kia chiếc cầu lịch sử Hàm Rồng”. (“Trong ngày hòa bình” – Linh Phương). Còn khát vọng hòa bình trong thơ Định Giang là sự hướng về một thuở thanh bình của đất nước thời Lý Trần Lê như một niềm ngưỡng vọng và tin yêu: “Và bây giờ/ Xin cho giấc ngủ đời đời/ Để trong mơ sống lại thời mẹ ru/ Những thanh bình cũ có từ/ Lý Trần Lê đã phiêu du trở về” (“Những tuổi đời đã đi qua” – Định Giang, Giữ thơm quê mẹ số 3 /9 /1965).

Và, có thể nói khát vọng hòa bình là hệ giá trị nhân văn trong cảm thức về chiến tranh và người lính của thơ miền Nam 1954-1975, là một dòng chảy trong thơ miền Nam luôn hiện hữu trong sáng tác của nhiều thi sĩ.

3. Thay lời kết

Dù chiến tranh đã lùi xa trên đất nước gần 50 năm, nhưng hệ quả để lại của cuộc chiến tranh, không phải không còn ám ảnh trong tâm thức của người dân Việt, nhất là đối với những con người đã sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, đã từng chứng kiến cảnh đói nghèo, chết chóc, tang thương, khổ đau diễn ra với từng con người, từng gia đình như một phận số của định mệnh dân tộc, trong đó thân phận bi kịch của người lính. Đây chính là khởi nguồn hình thành cảm thức viết về chiến tranh và người lính trong thơ miền Nam 1954-1975 mà những biểu hiện chân xác nhất được thể hiện qua nỗi đau phận người trong chiến tranh, với những ám ảnh về cái chết, về sự tàn phá của đạn bom đối với cuộc sống con người ở cả bình diện diện vật chất lẫn tinh thần, đẩy con người vào bi kịch của hiện hữu đầy nghiệt ngã, vô vọng trong cuộc tồn sinh. Đây cũng là điều băn khoăn, trăn trở của các nhà thơ miền Nam, khi viết về đề tài chiến tranh và người lính mà Nguyễn Phan Thịnh trong bài thơ “Xin cho tôi được hỏi” luôn dằn vặt, tự vấn tại sao: “chúng mình không có quê hương/ chúng mình sẽ chết giữa con đường (…) Tôi đã đi qua bao nhiêu điêu tàn/ và bao nhiêu khốn khổ”. Và, bởi, không tìm thấy câu trả lời từ cuộc sống, thi nhân đã tìm đến với thế giới tâm linh để tiếp tục tra vấn: “Tôi hỏi những người mặc áo tu hành/ Bài kinh nào dành cho chiến tranh/ Bài kinh nào dành cho khốn khó”. Nhưng, trong những ngày cuộc chiến diễn ra hơn hai mươi năm ở miền Nam, đó vẫn là một “câu hỏi không có lời đáp”.

Dẫu vậy, từ trong vũng lầy của vực thẳm đau thương vẫn sáng lên những khát vọng cao đẹp có ý nghĩa nhân văn, đó là ước mơ về cuộc sống an yên, hòa bình, trong dòng chảy tình tự dân tộc. Và điều tự vấn của nhà thơ Nguyễn Phan Thịnh, phần nào cũng tìm được lời giải trong cuộc sống hôm nay khi đất nước đã thống nhất và dân tộc vui sống trong hòa bình. Vì vậy, việc nhận diện cảm thức chiến tranh và người lính trong thơ miền Nam với những biểu hiện như đã nêu trên, sẽ giúp chúng ta hiểu và cảm những giá trị nhân bản trong thơ miền Nam, một bộ phận trọng yếu của di sản văn học miền Nam 1954-1975, đồng thời thấy được những giá trị đáng quí của cuộc sống hòa bình hôm nay trên nước Việt dấu yêu mà bao nhiêu năm sống trong binh lửa chiến tranh chúng ta hằng mong ước…

Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp, 21.6.2024

PGS-TS TRẦN HOÀI ANH

_______________________

Tài liệu tham khảo:

  1. Trần Hoài Anh (2020), Đi tìm mỹ cảm văn chương, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội
  2. Trần Hoài Anh (2023), Lý luận phê bình văn học miền Nam 1954-1975 – Tiếp nhận và ứng dụng, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội
  3. Cao Thế Dung (1969), Thi ca và thi nhân, Quần Chúng xuất bản, Sài Gòn.
  4. Minh Huy (1962), Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam, Khai Trí xb., Sài Gòn.
  5. Hoài Khanh (1970), Gió bấc, trẻ nhỏ, đóa hồng và dế, Nxb., Ca Dao, Sài Gòn
  6. Trần Tuấn Kiệt (1967), Thi ca Việt Nam hiện đại, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn.
  7. Nhiều tác giả, Giữ thơm quê mẹ, tập san văn nghệ năm 1965, 1966, Lá Bối Xb., Sài Gòn
  8. Nhiều tác giả, Ý Thức, Bán Nguyện san văn học nghệ thuật năm 1970, 1971
  9. Nhiều tác giả, Văn, Tập san văn chương Tư tưởng Nghệ thuật năm, 1964, 1967, 1969
  10. Nhiều tác giả, Giai phẩm Văn, Số đặc biệt về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, 12/10/1973
  11. Nguyên Sa (1975), Thơ Nguyên Sa, Tủ sách Thương Yêu Xb., Sài Gòn,
  12. Nguyễn Bắc Sơn (1972), Chiến tranh Việt Nam và tôi, Nxb. Đồng Dao, Sài Gòn
  13. Linh Phương (1971) Kỷ vật cho em, Nxb. Động Đất, Sài Gòn
  14. Nguyễn Đình Tuyến (1967) Những nhà thơ hôm nay, Nhà văn Việt Nam, Xb. Sài Gòn
  15. Thanh Tâm Tuyền (1956) Tôi không còn cô độc, Hợp Lực Xb., Sài Gòn


Tin tức khác

· CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975
· LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG
· TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG
· NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA DƯƠNG HƯỚNG
· NHÀ THƠ ĐẶNG ĐÌNH HƯNG - MỘT CUỘC CÁCH TÂN THƠ ÂM THẦM - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· 40 NĂM TÌM CON GÁI CHO CHA
· NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
· VÀM CHÀ LÀ - MIỀN KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA LUẬT SƯ, CHỦ TỊCH NGUYỄN HỮU THỌ
· MỘT CƠN MƯA RẤT NHẸ TRÊN VAI TRỊNH CÔNG SƠN
· TẾT TRONG VĂN HỌC NAM BỘ HIỆN ĐẠI - KÝ ỨC BẢN ĐỊA TRƯỚC DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI
· NGUYỄN BÍNH - NGƯỜI GỌI HỒN QUÊ - Tiểu luận HỮU THỈNH
· BỘN BỀ CUỘC SỐNG TRONG THƠ PHAN HOÀNG
· BẤT NGỜ... ĐỖ NGỌC YÊN
· HÃY SỐNG NHƯ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT - MỘT NHAN ĐỀ ĐỘC ĐÁO
· NỖI NHỚ TẾT NHÀ QUA NHỮNG TRANG VIỆT NGỮ Ở HẢI NGOẠI
· TRUYỆN NGẮN HỒ LOAN VÀ HAI PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· PHẠM NGỌC CẢNH VÀ TÂM TÌNH MỘT NHÀ THƠ MẶC ÁO LÍNH
· CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC - THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
· TRUYỆN NGẮN NĂM 2025 - MỘT NĂM ĐƯỢC MÙA - Tiểu luận HOÀI NAM
· DẤU XƯA NHẤT LINH

Tin tức mới
♦ CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975 (03/03/2026)
♦ LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG  (03/03/2026)
♦ TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG (03/03/2026)
♦ ĐÊM THƠ NGUYÊN TIÊU BÍNH NGỌ 2026 TẠI XÃ TAM MỸ: 'TRƯỚC BIỂN LỚN: QUÊ HƯƠNG - TIẾNG THƠ, NHỊP SÔNG' (03/03/2026)
♦ NGÀY THƠ VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH: 'TIẾNG GỌI ĐÔ THỊ MỚI' (03/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1906676
Trong thang Trong tháng: 177149
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 83933
Truc tuyen Trực tuyến: 4

...

...

Designed by VietNetNam