• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
AI LÀ TÁC GIẢ BÀI THƠ 'NAM QUỐC SƠN HÀ' BẤT HỦ? - Tiểu luận VŨ BÌNH LỤC

AI LÀ TÁC GIẢ BÀI THƠ 'NAM QUỐC SƠN HÀ' BẤT HỦ? - Tiểu luận VŨ BÌNH LỤC



NGUỒN: Vanvn-Cập nhật ngày: 8 Tháng 1, 2026 lúc 20:35

 

Danh tướng Lý Thường Kiệt. Tranh vẽ từ Internet

Danh tướng Lý Thường Kiệt (1019-1105), tên thật là Quách Tuấn. Ngọc phả họ Ngô có từ đời Nguyễn chép rằng Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn. Nhưng văn bia được tìm thấy ở Hưng yên có từ đời Hậu Lý cho biết rằng ông họ Quách, Quách Tuấn. Thường Kiệt là tên tự, được ban Quốc tính (họ nhà vua), sau lấy tên chữ làm tên. Ông là người quê gốc tỉnh Hưng Yên, tinh thông thao lược, lại giỏi cả văn chương.

Năm 23 tuổi, vào làm quan trong triều, với chức Hoàng môn chi hậu, rồi thăng dần lên chức Thái úy, làm quan ở 3 triều vua nhà Lý: Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông (1028-1128). Lý Thường Kiệt có công rất lớn trong việc đánh Tống, bình Chiêm, bảo vệ và xây dựng đất nước, khi chết được tặng tước Việt Quốc Công. Ông là người được đương thời kính trọng, ngàn đời sau còn ghi nhớ công lao.

Bài thơ “Nam quốc sơn hà” (Sông núi nước Nam) xưa nay vẫn được cho là Lý Thường Kiệt sáng tác, còn gọi là “Thơ Thần”. Tương truyền, bài thơ được Lý Thường Kiệt sai người vào đền thờ Trương Hống và Trương Hát, ban đêm đọc to cho quân sĩ nghe, để khích lệ lòng yêu nước của tướng sĩ, trong bối cảnh cuộc chiến giữa Đại Việt và quân Tống xâm lược còn đang ở thế giằng co trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu), nay nằm giữa hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh.

NAM QUỐC SƠN HÀ

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lại xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Dịch nghĩa:

SÔNG NÚI NƯỚC NAM

Núi sông nước Nam thì vua Nam ở,
Cương giới đã ghi rành rành trên sách trời.
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám đến xâm phạm?
Hãy chờ xem, chúng bay nhất định sẽ chuốc lấy bại vong!

Câu đầu là khẳng định chủ quyền và độc lập dân tộc. Rằng núi sông này là của người Nam, thì “Nam Đế cư” (vua Nam ở) đơn giản thế thôi! Ví như sông núi của nước Tống, thì vua nước Tống ở, có gì lạ đâu? Có gì bất bình thường và sai trái đâu? Một sự thật hiển nhiên sáng tỏ như ban ngày, đến hòn đá vô tri cũng phải thừa nhận, huống nữa là người. Duy chỉ có một điều, tưởng là đơn giản, nhưng không hề đơn giản, đó là chữ “Vua Nam ở” (Nam Đế cư). Sao không phải là “Dân Nam ở”, mà lại là “Vua Nam ở”? Hóa ra, dưới thời phong kiến, cả thiên hạ rộng lớn đều là của nhà vua, vua là chủ tối thượng. Theo quan niệm Nho giáo, thì “Quân thí thần, thần tử” (Vua bắt bề tôi chết, thì bề tôi phải chết), dẫu vui vẻ chết, hay miễn cưỡng phải chết cũng thế cả thôi. Còn như “Thần thí quân, bất trung”, nghĩa là bề tôi giết vua, thì đó là kẻ bề tôi phạm tội bất trung. Vua đồng nghĩa với nước, nên trung với vua, chính là trung với nước vậy!

Phải dẫn đôi điều vòng vo ngược dòng lịch sử như thế, để chúng ta thấy rằng, chữ ĐẾ mà tác giả bài thơ nói ở đây, chính là một chữ cực kỳ quan trọng, rất phong phú nội hàm tư tưởng và văn hóa. Bọn giặc cướp nước tự cho mình là nước lớn, văn minh, là “Đế”, xem thường ta, coi ta là “Man”, thì ta đây cũng là Đế của phương Nam, của nước Nam có quốc hiệu là Đại Việt (nước Việt to lớn, vĩ đại), chả kém gì ai. Dân tộc Đại Việt, có thể sánh ngang với dân tộc khác trong khu vực, không hề thua kém. Thế nên, “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, vang lên như một niềm tự hào chính đáng, về một dân tộc có chủ quyền, một nước có người làm chủ, đàng hoàng, chính danh, chính đại và cả chính nghĩa nữa! Một nước có chủ quyền, hiện hữu, có văn hiến riêng đàng hoàng, cương vực lãnh thổ riêng, phong tục tập quán riêng, vẫn đang tồn tại, và tồn tại một cách mạnh mẽ. Nguyễn Trãi (1380-1442) sau này, dựa trên tinh thần tư tưởng này đã viết trong “Bình ngô đại cáo”: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu / Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc Nam cũng khác”… Bắc Nam đây là (Phương Bắc) và Đại Việt (Phương Nam).

Câu thứ hai, “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (Điều ấy đã được ghi rất rõ ràng ở sách trời). Nếu như câu thứ nhất thể hiện chứng lý về sự thật hiện hữu CỦA NÚI SÔNG BỜ CÕI, thì câu thứ hai là chứng lý về tâm linh, phi vật chất. Ngươi tự xưng là Đế, là “con trời” (Thiên tử) ư? Thế thì ta đây cũng là Đế, là con trời, Thiên tử chứ sao? Và nếu như trời là đấng tối cao, có thật, thì cái điều “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, cũng là điều có thật, được ghi chép rất rõ ràng ở “sách trời”. Thế là dùng cái lý của kẻ thù, để bẻ lại cái lý của chính nó, đầy sức thuyết phục. Lại còn là một sự khẳng định, khẳng định vững chắc, rằng “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”!

Vậy thì cớ gì mà lũ giặc cuồng bạo kia lại dám đến đây xâm phạm vào bờ cõi của ta (Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm)? Một câu hỏi tu từ. Hỏi, nhưng là để khẳng định chính nghĩa của ta, khẳng định bản chất phi nghĩa của kẻ thù. Rằng bọn xâm lược kia chỉ là giặc cướp, ngang nhiên liều lĩnh xâm phạm chủ quyền độc lập của ta. Chữ “Tặc” là giặc; chữ “Lỗ” cũng là giặc, nhưng “Nghịch lỗ”, thì là lũ giặc phản nghịch, cuồng bạo, cố ý làm trái với “đạo trời”, phản lại “đạo trời”, cũng là phản lại chính nghĩa. Đó chính là sự lên án ở tầm mức cao hơn. Nếu như kẻ thù lợi dụng thế lực siêu nhiên, siêu hình (trời), thì tác giả cũng lại dùng lý lẽ của sự siêu hình, của thế lực siêu nhiên để một lần nữa vạch trần, phê phán sự phi nghĩa, phi lý của giặc. Thật là tài tình, thâm hậu và chặt chẽ!

Câu cuối là kết quả hành động xâm lược “phi nghĩa, phi đạo” của giặc Tống, cũng đồng thời là niềm tin tất thắng của ta. Rằng “Chúng bay” (nhữ đẳng) “sẽ được xem” (hành khan), nhất định sẽ tự chuốc lấy bại vong (thủ bại hư)! Không thể khác được. Lại thêm một lần nữa khẳng định cái thế tất thắng của chính nghĩa, theo đó là cái lẽ tất thua của lũ giặc cuồng ngông.

“Nam quốc sơn hà”, từ xưa đã được xem là một áng “thiên cổ hùng văn”, một bản “tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của người Đại Việt. Bài thơ tứ tuyệt, chỉ có 28 chữ, nhưng tình ý thì đủ đầy, sâu sắc, vô cùng sâu sắc, sẽ là mãi mãi bất hủ. Tương truyền, khi nghe “Thần” trong đền thờ hai vị Trương Hống và Trương Hát sang sảng đọc vang bài thơ này, quân sĩ Đại Việt bỗng trào dâng ý chí chiến đấu, nhất tề dũng mãnh xông lên, đánh bại kẻ thù. Còn bọn giặc Tống thì run sợ, tan tác, chuốc lấy bại vong.

Mới hay, văn chương có sức mạnh thần thánh, nâng bước không chỉ cho một đạo quân, một trận đánh, mà hơn thế, cho cả một dân tộc đứng lên và chiến thắng chính mình, chiến thắng kẻ thù cuồng bạo. Ai đã làm ra những tác phẩm vô giá như vậy? Chẳng phải là những trí thức tài cao học rộng đấy ư? Kẻ ít học tầm thường sao làm được cái việc phi thường kia? Trí thức là bộ óc của dân tộc, là lớp người dẫn dắt dân tộc đi lên. Xưa cũng như nay, đều thế cả!

Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục tặng sách cho nhà thơ Phan Hoàng ở TPHCM

Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin nêu thêm quan điểm của chúng tôi về vấn đề văn bản bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt. Vài chục năm trước có bài báo của một vị Giáo sư, “công bố” việc ông ấy đã “phát hiện” được tấm bia rất cổ ở mạn biên giới phía Bắc nước ta. Tấm bia “cổ” này khắc bài thơ “Nam quốc sơn hà” không có tên tác giả (khuyết danh). Thông tin này làm giới nghiên cứu văn học xôn xao, nghi ngờ. Sách Giáo khoa THPT còn chú thích cái sự nghi ngờ này, tương tự như có người đoán mò rằng “Chinh phụ ngâm khúc” không phải là bản chuyển ngữ của bà Đoàn Thị Điểm. Sách Giáo khoa lại cũng cứ tung hô cái điều nghi ngờ vớ vẩn đó. Rằng bản dịch hiện hành có thể là của Phan Huy Ích. Chúng tôi đã bác bỏ điều này. Chẳng có chứng lý nào đưa ra được, để cho rằng bản dịch hiện hành cuốn “Chinh phụ ngâm khúc” là của ông Phan Huy Ích cả.

Với bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, tôi cho rằng kẻ xấu đã cố ý tạo ra một tấm bia giả cổ, rồi chôn xuống đất ở một vị trí gần biên giới phía Bắc. Rồi họ bắn tin cho một vài ai đó đến “khai quật” lên, tung lên mặt báo, khiến người Việt hoang mang nghi ngờ tất cả. Thủ đoạn này thì chúng ta đã từng gặp phải ở các thế lực thù địch không chỉ trong quá khứ. Họ còn cố ý chôn những cột bia “cổ” ở khắp các đảo của chúng ta, để một khi nào đó, họ lấy làm chứng lý để chứng minh rằng, đây là đất đai của tổ tiên họ. Báo chí thời gian qua đã đăng tải công khai, lật tẩy cái thủ đoạn xấu xa thâm độc này.

Thế nên, cái gọi là “bằng chứng” khai quật tấm bia có bài thơ “Nam quốc sơn hà” được “phát hiện” kia, chỉ là một thứ ngụy tạo hết sức tinh vi, để đánh vào niềm tin ngây thơ của người Việt. Họ còn làm đủ trò lừa bịp. Ấy thế mà khối người Việt đã cả tin vào những trò dối trá. Chẳng phải là đáng tiếc lắm hay sao?

VŨ BÌNH LỤC



Tin tức khác

· NHỚ NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG - SỰ CUỐN HÚT TỪ CẢM XÚC VÀ TẤM LÒNG - Tiểu luận TRẦN ĐĂNG KHOA
· AI THẬT SỰ ĐÃ VẼ 'TRÚC LÂM ĐẠI SĨ XUẤT SƠN CHI ĐỒ'?
· AI LÀ TÁC GIẢ BÀI THƠ 'NAM QUỐC SƠN HÀ' BẤT HỦ? - Tiểu luận VŨ BÌNH LỤC
· CUỘC TRƯỜNG CHINH KHÔNG MỆT MỞI CỦA 'O TÔN NỮ HUẾ' - Tiểu luận NGUYỄN KHẮC PHÊ
· CHỈ CÓ THỂ LÀ CAO VIỆT QUỲNH - Tiểu luận TỐNG PHƯỚC BẢO
· NHỮNG SẮC MÀU THƠ VIỆT 2025 - Tiểu luận ĐỖ ANH VŨ
· NGUYỄN DU VÀ TIẾNG NGHỆ - Tiểu luận VƯƠNG TRỌNG
· THƠ BẰNG VIỆT - TIẾNG VỖ CÁNH CỦA SUY TƯỞNG - Tiểu luận HỮU THỈNH
· BÍ ẨN VẬT THỂ NGHỊ MỘ HOÀNG THÁI HẬU DƯỚI ĐÁY SÔNG CHU
· VÌ SAO XUẤT HIỆN CÁC THÁNH TỔ DƯỚI TRIỀU LÝ?
· LẮNG NGHE TIẾNG THÌ THẦM - Tiểu luận của LÊ THỊ TUYẾT HẠNH
· MẠCH TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN THẾ HỆ NHÀ VĂN SAU 1975 - Tiểu luận ĐINH TRÍ DŨNG
· NHÀ THƠ THÔI HỮU - NHÂN CÁCH VÀ SỐ PHẬN
· NHÀ THƠ PHÙNG CUNG VÀ NHỮNG ÁM ẢNH VĂN HÓA VIỆT - Tiểu luận TRẦN HOÀI ANH
· NHỚ NHÀ THƠ TRƯƠNG VĨNH TUẤN - DƯỚI CỎ NHIỆM MÀU - Tiều luận LƯƠNG NGỌC AN
· NHÀ THƠ HOÀNG CÁT - NGƯỜI COI THƠ LÀ ĐẶC SẢN CỦA TÂM HỒN
· NGUYỄN TIẾN THANH VỚI 'VIỄN CA'
· HAI VỊ TRẠNG NGUYÊN TRIỀU MẠC VÀ GIAI THOẠI THÚ VỊ
· THÁI ÚY TÔ HIẾN THÀNH - NHỮNG BÀI HỌC KHÔNG BAO GIỜ CŨ
· 'KIẾN TRÚC SƯ' ĐẦU TIÊN CỦA ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH LÀ AI?

Tin tức mới
♦ THƠ NGUYỄN PHONG VIỆT - ĐỜI SỢ LẮM NHỮNG NGÀY IM TIẾNG GIÓ (10/01/2026)
♦ NHỚ NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG - SỰ CUỐN HÚT TỪ CẢM XÚC VÀ TẤM LÒNG - Tiểu luận TRẦN ĐĂNG KHOA (10/01/2026)
♦ AI THẬT SỰ ĐÃ VẼ 'TRÚC LÂM ĐẠI SĨ XUẤT SƠN CHI ĐỒ'? (10/01/2026)
♦ AI LÀ TÁC GIẢ BÀI THƠ 'NAM QUỐC SƠN HÀ' BẤT HỦ? - Tiểu luận VŨ BÌNH LỤC (08/01/2026)
♦ CUỘC TRƯỜNG CHINH KHÔNG MỆT MỞI CỦA 'O TÔN NỮ HUẾ' - Tiểu luận NGUYỄN KHẮC PHÊ (08/01/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1857466
Trong thang Trong tháng: 172474
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 76623
Truc tuyen Trực tuyến: 3

...

...

Designed by VietNetNam