TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
ÁM ẢNH CỦA GỐC VĂN HÓA NÔNG NGHIỆP TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM
ÁM ẢNH CỦA GỐC VĂN HÓA NÔNG NGHIỆP TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM
-MAI BÁ ẤN
Trên thế giới có hai loại hình văn hóa chính: Văn hóa gốc nông nghiệp (phương Đông) và Văn hóa gốc du mục (phương Tây), trong đó Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình, phương Tây là loại hình văn hóa gốc du mục điển hình, còn Trung Hoa là loại hình văn hóa nước đôi (nông nghiệp gốc du mục). Đến bây giờ, với những thành tựu của ngành khảo cổ học, dân tộc học, đặc biệt là công nghệ gien, Việt Nam và các nước Đông Nam Á thực sự đã là chiếc nôi của nền văn minh lúa nước của loại hình văn hóa nông nghiệp điển hình. Chính vì lẽ đó mà đã từ lâu, đời sống nông nghiệp đã ảnh hưởng rất lớn đến tính cách sống của con người Việt Nam. Chính từ cội nguồn văn hóa mà người Việt Nam từ cách sống, cách sinh hoạt cho đến lối nhận thức, tư duy đều chịu sự chi phối nặng nề của cội nguồn văn hóa. Nhận thức đã thế, tư duy đã thế, tất nhiên sẽ được biểu hiện qua ngôn ngữ. Sự biểu hiện này, xưa nay, ta dễ dàng nhìn thấy trong ngôn ngữ các tác phẩm văn chương, đặc biệt là văn chương bình dân (văn học dân gian). Tuy nhiên, để hiểu rõ ngọn nguồn của ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày - loại ngôn ngữ mà từ bình dân đến trí thức đều thường dùng, không phải ai cũng cảm nhận hết. Trong giao tiếp thông thường, ngôn ngữ có thói quen là cứ hễ nói mà được nhiều người công nhận, hiểu được thì tất nhiên sẽ tồn tại và lưu truyền. Nhưng khi đem ngôn ngữ Việt đối chiếu với ngôn ngữ nước ngoài, mới thấy rằng: cái gốc văn hóa nông nghiệp đã thực sự đã tạo nên một “trường ngôn ngữ nông nghiệp” rất đặc thù trong giao tiếp của người Việt.
Là chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, người Việt sống chan hòa cùng cây cỏ tự nhiên, cùng với ruộng đồng gò bãi để tiến hành sản xuất nông nghiệp. Từ cách nói quen thuộc trong công việc đồng áng của mình, ngôn ngữ dần dần hình thành, vốn từ ngày càng phong phú để diễn tả mọi sự vật, sự việc cùng những tâm tư, tình cảm con người. Cách gọi tên sự vật, hiện tượng tự nhiên gắn liền với đất đai nông nghiệp tạo nên một ám ảnh khôn nguôi trong tâm thức người Việt để từ đó họ vận dụng vốn liếng ngôn ngữ này vào trong giao tiếp với sự chuyển nghĩa rất rõ nét và độc đáo.
1.Danh từ:
Khác với các dân tộc khác, khái niệm Tổ quốc, Quốc gia luôn luôn trừu tượng, người Việt Nam nông nghiệp dùng hai yếu tố quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp để chỉ Tổ quốc, Quốc gia, đó và Đất và Nước: “Đất nước Việt Nam”. Nhưng với cư dân làm nông nghiệp lúa nước, lúc cần thiết, người Việt lại lấy yếu tố quan trọng đầu tiên trong bốn yếu tố chính của sản xuất nông nghiệp: Nước - Phân - Cần - Giống để gọi Quốc gia: “Nước Việt Nam”. Từ tư tưởng hạt mầm, hạt giống của các loại cây trồng, người Việt nâng lên để gợi dậy cả cội nguồn dân tộc: “Nòi giống Việt Nam”, “Dòng giống Tiên Rồng”… Nghề chính của cư dân nông nghiệp là trồng trọt, vì thế các loại cây trồng trở thành đối tượng gắn bó suốt cả cuộc đời của người dân nông nghiệp. Thuần dưỡng được một loài cây để phục vụ lợi ích con người đôi lúc phải trải qua một quá trình rất dài mới nắm được đặc tính của từng loài cây để tìm cách gieo trồng, chăm bón. Chính vì lẽ đó mà cuộc sống này, cuộc đời bao la rộng lớn này được người Việt gọi một cách thân thương, gần gụi là: “Cây đời”, “Vườn đời”... Cây cối sống được, sinh trưởng được là nhờ mũ, nhờ nhựa, vậy thì con người sống được, trưởng thành được từ nhỏ đến lớn cũng được người Việt liên tưởng như sức sống của cây trồng theo cách nói: “Nhựa sống tràn đầy”, “Tràn trề nhựa sống”… Rồi cái việc nhổ mạ đi cấy, mạ được nắm lại, bó thành từng lọn, thu hoạch các loại rau, nắm lại, bó thành từng lọn, đặc biệt là thu hoạch lúa trên đồng, bó thành từng lọn… từ đó, người Việt không ngại ngùng gọi: “Lọn tóc”, “Bó hoa”,“Nắm xương tàn”,… Từng nhúm thóc gieo vải trên đồng để từ đó phát sinh cách nói “Một nhúm kiến thức còm cõi”… Đến mùa thu hoạch lúa, để cân đong đo đếm, người nông dân dùng cái ang để đong, từ đó, cái danh từ chỉ đơn vị đo lường này được sử dụng không phải chỉ riêng dùng cho việc đong đo sản phẩm nông nghiệp theo cách nói rất dễ thương:“Ngủ được một ang rồi”, … Gieo trồng trong sản xuất nông nghiệp, tất đợi đến ngày cây cối ra hoa, kết trái để đợi trái chín mà thu hoạch cho bỏ công cày cấy và thu về thành quả của mình. Chính vì như vậy, người Việt xem quá trình trai gái tìm hiểu nhau, yêu thương nhau cũng như sự vun quén để mong ngày thu hoạch, cho nên, họ mới nói rằng: “Hoa tình yêu thơm ngát, tỏa hương”, “Trái tình ngọt liệm”…hoặc hiện đại hơn, ta thường nghe nói: “Sự nghiệp đổi mới của ngành giáo dục, bước đầu đã đem lại những trái quả ngọt ngào”… Trong sản xuất nông nghiệp thì giai đoạn cây cối làm nụ để cho hoa cho trái là một giai đoạn khởi đầu rất quan trọng của muà thu hoạch, chính vì lẽ đó, người Việt gọi tình cảm ban đầu là:“Nụ hoa đầu đời”, rồi cái danh từ “nụ” này được phái sinh nghĩa để gọi “Nụ hôn đầu đời”, rồi nói: “Tuổi thiếu niên là mầm là nụ” hoặc chỉ cho sự khởi đầu của một quá trình về sau: “Mầm hi vọng”, “Mầm móng của tội ác”, “Gieo mầm tình yêu”, “Hạt mầm hi vọng”… Khi các loài rautrổ hoa mà không thu hoạch kịp, cuống hoa sẽ vượt cao lên thành “ngồng”. Cọng ngồng nhỏ bé mà vươn lên cao vút, từ đó, người Việt biến danh từ “ngồng” này thành định ngữ của tính từ và gọi những đứa bé nhanh lớn, cao mà gầy là: “Cao ngồng”, “Lớn ngồng”. Rồi cũng chính cái nõn nà, non nớt, trắng trong của những nõn chuối, nõn hoa, nõn rau, nõn cải để chỉ cái non tươi của mầm nụ các loài cây nông nghiệp, người Việt biến danh từ “nõn” thành từ chỉ mức độ làm định ngữ cho tính từ: “Da trắng nõn”, rồi thành từ láy hai: “Nước da trắng nõn nà”, tách láy hai: “Trắng nõn trắng nà”, láy bốn: “Trắng nõn nà nõn nuột” và tách láy bốn bằng cách tĩnh lượt tính từ để biến nó thành tính từ: “Ngón tay nõn nà, bàn tay nõn nuột”…
2. Động từ:
Từ những chuyển động của quá trình sinh trưởng của cây cối; từ những thao tác cụ thể, cử động cụ thể, hoạt động cụ thể, hành động cụ thể trong từng khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp, những động từ mang đậm yếu tố nhà nông dần dần được chuyển nghĩa trong quá trình giao tiếp của con người. Hạt giống, hạt mầm của các loài cây nông nghiệp ngoi lên khỏi mặt đất để bắt đầu giai đoạn sinh trưởng, người Việt gọi là “Mọc”. Chính vì lẽ đó mà khi mặt trời xuất hiện ở đằng đông, đỏ ửng, tròn trịa như hình một hạt đậu phộng nhô lên từ biển, liền gọi: “Mặt trời mọc”. Những ngôi nhà mới được xây lên từ một vùng đất hoang đang rộn ràng sự sống liền được gán ngay cho yếu tố “mọc” của hạt mầm: “Những ngôi nhà khang trang mọc lên từ trên vùng đất đồi hoang hóa”…Thao tác ươm hạt, ươm cây để bắt đầu cho quá trình sinh trưởng của cây cối nông nghiệp cũng liền sau đó đi vào ngôn ngữ giao tiếp thông thường để chỉ những hành động không hề liên quan gì đến sự ươm trồng nông nghiệp: “Ươm đầy mơ ước”,… Hoa nở rồi rụi tàn, lá xanh rồi úa héo là chuyện của cỏ cây, vậy mà con người đã quá thì xuân liền lập tức được gán ngay động từ này vào:“Đến thời tàn rụi”, “Đôi môi tàn úa”. Vun thành hàng để trồng khoai, trồng rau cùng những động từ: vun xới, vun trồnggắn chặt với thao tác nông nghiệp dần dần cũng chuyển sang để chỉ những hành động tạo nên những thành quả trừu tượng chứ không hề còn là hàng khoai hay luống đậu:“Có công vun trồng cho tuổi trẻ tình yêu đất nước”, “Truyền thống lịch sử cha ông đã vun đắp cho tuổi trẻ Việt Nam tình yêu nước thiết tha”…Vun hàng, luống lên rồi, khi ngọn khoai, ngọn rau vươn khỏi hàng, khỏi luống, người nông dân liền phải vén lên để nó khỏi bò lan xuống rãnh, thế rồi dần dần chuyển thành những động từ mà nghĩa của nó đã trượt rất xa cái nghĩa nông nghiệp ban đầu: “Vun vén hạnh phúc”,… hoặc khi vun xong, đất đã dẽ không thoát khí được, người nông dân bèn dùng cuốc chĩa xới lên cho tơi đất để rễ cây dễ thở, những động từ này dần dần chuyển nghĩa riêng vào giao tiếp không dính dáng gì đến chuyện khoai, rau nông nghiệp: “Chính anh là người đã vun xới cho lý tưởng cách mạng hình thành trong lớp trẻ chúng tôi ngày đó”. Và vân vân các động từ gốc nông nghiệp khác được chuyển vào ngôn ngữ giao tiếp với nhiều trường nghĩa rất phong phú như: Động tác chỉ thu hoạch kết quả:“Gặt hái thành công”, “Thu hoạch nhiều kết quả quan trọng”…; động từ chỉ quá trình sinh trưởng của cây trái: “Nẩy mầm tình yêu”, “Nẩy nở tình cảm”, “Tình yêu đơm hoa, kết trái”, “Đôi má ửng hồng”, “Đôi môi chín đỏ”, …; động từ chỉ sự rơi rụng của hoa quả: “Thành quả đạt được đã bắt đầu rơi rụng”, “Rơi rớt lại một vài ý nghĩ tiêu cực”,…
3. Tính từ:
So với danh từ và động từ thì tính từ mang gốc nông nghiệp xuất hiện có vẻ ít hơn. Ngoài những trường hợp danh từ chuyển hóa thành tính từ và từ chỉ mức độ làm định ngữ cho tính từ như đã nói phần trên, ta nhận thấy, dù xuất hiện ít nhưng lớp từ loại này có khả năng diễn đạt khá độc đáo và sâu sắc khi vận dụng vào ngôn ngữ giao tiếp. Đất đai khô khan, cằn cỗi được liên tưởng và sử dụng thành: “Tâm hồn khô khan”, “Trái tim cằn cỗi”,… ; tính từ chỉ đặc điểm, tính chất (màu sắc, trạng thái) của cây cối được chuyển nghĩa thành: “Ánh mắt tươi xanh”, “Nước da mơn mởn”, “Làn da tươi mát”, … Đặc điểm tàn úa, héo rũ của cây, lá, hoa được chuyển thành: “Thân xác héo gầy”, “Đôi môi tàn úa”, “Nụ cười xanh xao”, “Bờ môi khô quắt”… Cái đặc điểm hành động (vất vả) và âm thanh (tạo nên giữa bùn và nước) của người đi trên cánh đồng bùn lầy cũng được liên kết với cụm danh từ “bùn nhơ” để chuyển nghĩa thành sự vất vả, khó khăn giữa cuộc đời tội lỗi:“Lội bì bõm giữa bùn nhơ cuộc sống”, rồi cả đặc điểm lao động “chân lấm tay bùn” của con người nông nghiệp cũng được vận dụng thành: “Đời nó bụi bặm và lấm láp”, “Bụi phấn lấm láp trên đôi tay người thầy giáo”…
Sẽ còn rất nhiều người kéo dài thêm nhiều minh chứng sinh động nữa về những từ xuất phát từ đời sống và sinh hoạt của cư dân gốc văn hóa nông nghiệp trong ngôn ngữ giao tiếp Việt Nam. Dù đây là những minh chứng mang tính gợi mở, nhưng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng: chính sự ám ảnh của gốc văn hóa nông nghiệp này đã khiến trong ngôn ngữ giao tiếp của người Việt nổi bật lên đặc trưng là rất biểu tượng và đầy hình ảnh. Một ai đó muốn chuyển ngữ lớp từ ngữ này sang một ngoại ngữ nào đó e sẽ rất khó khăn, có lẽ chỉ còn cách đưa những nghĩa biểu trưng này trở về lại với nghĩa đen mà nó muốn diễn tả. Ta cứ thử tưởng tượng dịch sang tiếng Anh những cụm từ này sẽ càng dễ thấy hơn: “gieo mầm kiến thức”, “hạt giống cách mạng”…
Rõ ràng, chính gốc văn hóa nông nghiệp đã hằn một dấu ấn rất sâu đậm trong tâm thức người Việt để tạo nên cả một trường ngôn ngữ sinh động và phong phú trong tiếng Việt. Dù sao, đây mới chỉ là lớp ngôn ngữ giao tiếp thông thường, nếu thử đi vào các tác phẩm văn chương ta sẽ còn phát hiện ra nhiều điều thú vị nữa. Giả dụ như: “Các em mở ra những trang sách ruộng đồng/ Tôi cúi xuống gieo vào hạt chữ” (Đoàn Vị Thượng), hoặc “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rủ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi)… Tôi nghĩ các luận văn, luận án về ngôn ngữ và văn học nên chăng hãy đi vào những vấn đề cụ thể này thì mới có những đóng góp của công trình, còn cứ mãi đi vào những đề tài chung chung ắt sẽ rơi vào những điều mà người đi trước đã nói. Phần tiếp theo của bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến “Sự ám ảnh của văn hóa sông nước trong ngôn ngữ Việt Nam” xuất phát từ gợi mở này: “Đảng Cộng sản Việt Nam là người lèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao phong ba bão táp cập đến bến bờ vinh quang”./.
Kỳ tới: Ám ảnh của môi trường văn hóa sông nước trong ngôn ngữ VN
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.