TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
BA BÀI THƠ CỦA TƯỜNG LINH, TẦN HOÀI DẠ VŨ, NGUYỄN ĐÔNG NHẬT
BA BÀI THƠ CỦA TƯỜNG LINH, TẦN HOÀI DẠ VŨ, NGUYỄN ĐÔNG NHẬT
“Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài“Khúc ca quy ẩn”như lời từ giã đời thơ.
Nhân đọc bài thơ này, nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ viết “Quy ẩn, về đâu?”để tặng ông như một nét “lễ” của cách ứng xử trong truyền thống văn hóa.
Một nhà thơ đất Quảng khác, thuộc thế hệ kế sau, Nguyễn Đông Nhật viết tiếp “Quy khứ, về đây”thay lời ngỏ chân tình: Cuộc đời dẫu có nhiều cay đắng, ngậm ngùi, thì vẫn là nơi con người phải gánh trọn số phận để đi qua hết cuộc tồn sinh. Cả ba bài dù đều viết theo thể thơ cổ: hành độc vận nhưng mang một phong thái riêng. Cảm khái trước tình thơ của ba nhà thơ đất Quảng Nam xin được giới thiệu ba bài hành này như một món quà thơ nhằm nhắc lại một nét đẹp trong văn học truyền thống tiếp nối những âm hưởng tuyệt vời những bài hành bất hủ của Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Quang Dũng...
TƯỜNG LINH
Khúc ca quy ẩn
Bạch diện qua rồi, vẫn trắng tay thư sinh buổi trước, gã cuồng nay lạc đường, quay ngựa, vương tình bút xa ruộng, lìa quê, nhớ luống cày đọc sách nửa đời chưa sáng ý bão bùng tơi tả cánh mơ bay nghìn câu nguyện ước tan theo mộng ráng đỏ mây phai nắng cuối ngày hiên vắng ta ngồi đêm nguyệt tận mắt buồn người hiện giữa cơn say
Khúc thu người tiễn ta chiều cũ dương liễu đầu sông lá rụng đầy không chén trường đình mà lảo đảo không màng sự nghiệp cũng ngây ngây sông Thu nào phải là sông Dịch hai phía thầm đau nhạn lạc bầy ta đã hẹn người ngày tái kiến hội xuân đời ghép hội rồng mây người không còn nữa, ta phiêu bạt trở lại, còn ai gặp nữa đây? quê cũ, cổng làng ai đứng đợi? chiều xuân lạnh chiếu rượu xuân bày sông xưa lở cả đôi bờ đẹp hoang vắng, đò thôi cập bến này trời mênh mông quá, vô tình quá! không hận nhưng lòng tiếc lắm thay! vốn nặng cưu mang tình cố lý về nhìn hiên cúc gió thu lay ta ngâm khe khẽ bài tương biệt người trách thầm qua nét nhíu mày nhân ảnh mờ chìm trong đáy cốc rượu chiều sóng sánh bởi heo may ta chờ nghe tiếng thân thương cũ người gửi riêng ta thuở đọa đày chiều bỗng tuôn mưa, trời nổi sấm chén buồn còn lại chất men cay bóng người mãi mãi là hư ảnh mưa suốt đêm trường, gió lạnh vây rượu rót chờ người không hiện nữa bài thơ chiêu niệm ý hao gầy
Cố nhân! ta gọi tên bằng hữu vạn nẻo trầm luân mất dấu giày ta ngó lên nguồn, trông xuống biển hỏi cùng nam bắc, hỏi đông tây… lặng im, xẻ nghé tan đàn hết! tiếp những mười năm hẹn đã chầy mồ bạn lạc loài bao cõi lạ nén hương chưa đốt tỏ lòng này tri âm tri kỷ như sao sớm chút nghĩa kim bằng cũng hiếm thay!
Cuối cuộc viễn trình đơn độc quá! bơ phờ cánh hạc khép đường bay gẫm bao chí lớn trong thiên hạ chẳng được còn xanh với cỏ cây thì ta một chấm nhân sinh nhỏ mong mỏi gì hơn ở kiếp này? cũng chẳng tính chi còn với mất càng không than vãn chuyện riêng tây đàn xưa trỗi lại bài lưu thủy lắm nỗi niềm trao với nước mây khúc ca quy ẩn đưa xa nhịp khắc nét đời thơ chiếc bóng gầy vang mãi dư âm triều hệ lụy thơ chào tuyệt tích gửi ai đây? Tân Tỵ - 2001 (nguồn: SÔNG HƯƠNG tháng 5.2011)
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.