TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Thi hữu
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 1: BẾN SÔNG TRẦU - Hồi ức MAI BÁ ẤN
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN XÓM: KỲ 1: BẾN SÔNG TRẦU - Hồi ức MAI BÁ ẤN
- HỒI ỨC MAI BÁ ẤN
Xin thưa trước, đây là những mẫu chuyện ghi những kỷ niệm ở làng quê tôi nhằm lưu lại những địa danh, những con đường, những xóm làng, những con người mà tôi được biết, được nghe… Ghi chép lại, hầu mai sau khi nông thôn được đô thị hóa và quá trình biến đổi do thay đổi địa giới hành chính, thay đổi địa danh, thế hệ sau còn biết được chuyện cũ của cha ông, của quê quán một thời. Đó là những con đường, những mảnh vườn, những đồng ruộng dần bị xóa nhòa theo quá trình phát triển của xã hội. Những dãy rừng thưa, những cây Bàng, cây Bứa, cây Mù U… cổ thụ, những hàng Duối già, những ngõ quê, những tên gò, tên ruộng, tên xứ, tên xóm, tên làng,…; thậm chí một số di tích miếu mạo, chùa chiền cũng mai một theo thời gian. Đây hoàn toàn không phải là chuyện lịch sử, lai lịch của một vùng đất, của làng, xóm hay các di tích… mà là những câu chuyện, kỉ niệm sâu sắc liên quan đến những địa danh ấy. Cho nên, mong người đọc bỏ qua nếu có những tình tiết chưa chính xác về thời điểm lịch sử. Nghĩa là những câu chuyện đã được phủ một lớp sương mù quá khứ, xuyên qua lớp bụi thời gian trôi. Một chút mơ hồ, một chút mỏng manh hiện về trong tâm thức như khói, như sương…
Đấu cầu Nguyễn Phùng - Ảnh: Lê Văn Huân
Cũng xin lưu ý, những địa danh tôi gọi trong tập sách này chỉ xin được đóng khung trong giai đoạn từ khi tôi sinh ra và nhận biết đến hết tháng 6/2026 (trước khi sáp nhập các thôn). Vì thế, tên gọi các địa danh được bắt đầu từ những thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX. Những chuyện kể từ trước 1975 tên xã xin gọi là xã Kỳ Sanh, (quận Lý Tín, tỉnh Quảng Tín). Từ sau 1975 đến 2005 gọi là xã Tam Mỹ, huyện Nam Tam Kỳ (rồi Tam Kỳ) và 2001 là huyện Núi Thành thuộc tỉnh Quảng Nam (rồi Quảng Nam - Đà Nẵng, rồi lại Quảng Nam đến trước 01/7/2025). Từ sau 2005 đến tháng 6/2025 gọi Tam Mỹ Đông và từ 01/7/2025, gọi là xã Tam Mỹ (bao gồm cả Tam Mỹ Đông ,Tam Mỹ Tây và Tam Trà), thành phố Đà Nẵng.
Làng (thôn) Phú Quý tôi dùng trong tập hồi ức này là thôn của trước 1975 đến năm 2005 (trước khi tách xã Tam Mỹ ra thành hai xã Tam Mỹ Đông và Tam Mỹ Tây và tách thôn Phú Quý ra thành ba thôn: Phú Quý 1 (Xóm 1 xưa), Phú Quý 2 (Xóm 2 xưa), Phú Quý 3 (Xóm 3 xưa) trước tháng 7/2026.
Để dễ hiểu hơn, tôi xin được gọi thôn Phú Quý xưa là “Làng Phú Quý”, còn các thôn thì gọi theo tên thôn trước tháng 7/2026 là Phú Quý 1, Phú Quý 2 và Phú Quý 3 (Nghĩa là trước khi thôn Phú Quý 1 của tôi nhập vào Trà Tây thành thôn Trà Tây). Trong đó có các Xóm cụ thể như: Xóm Bến, Xóm Chợ, Xóm Cát, Xóm Lưới, (nay thêm Xóm Đồng Vỡ) thuộc Phú Quý 1; Xóm Gò Đu Hạ, Xóm Gò Đu Thượng, Xóm Cây Nổ, Xóm Quy Khu, Xóm Gò Gai, Xóm Đạo thuộc Phú Quý 2 và Xóm Năm Mú thuộc Phú Quý 3.
Như vậy, chuyện tôi viết chỉ xin giới hạn trong phạm vi “Làng Phú Quý” cũ (thôn Phú Quý trước thời điểm 2005). Còn các địa danh khác thuộc xã Tam Mỹ và các xã lân cận hiện nay, chỉ xin nhắc khi có liên quan đến chuyện kể của Làng tôi.
CHUYỆN 1. Con sông Trầu chảy trước nhà tôi
Xuất phát từ núi Hòn Rơm - ngọn núi cao nhất trong dãy núi Răng Cưa thuộc xã Tam Mỹ Tây (trước 7/2025), con Sông Trầu chảy qua Xóm Bến được xem như hạ lưu trước khi hợp lưu cùng sông Tịch Tây (từ dãy núi phía Nam đổ ra) nhập về sông Bến Ván - cực Nam của con sông Trường Giang chảy song song với bờ biển Đông như vòng tay ôm cả dải đất Quảng Nam từ cực Bắc đến cực Nam của tỉnh (cũ).
Bến Sông Trầu (Bến Thế) cũ tại đây (cũng là đầu Nam cầu Bà Giày), phía trên ảnh là cầu Nguyễn Phùng hiện nay - nền xin măng bên trái do dân đắp để cúng bến và tổ chức đua ghe hàng năm (Ảnh: Lê Văn Huân)
Khúc hạ lưu Sông Trầu phía trên cầu Bà Giày, thì bên hữu ngạn (dưới Khu vườn nhà thứ 1 đời ông cố tôi) là bên lở (bùn, hẳm, sâu). Bên tả ngạn xóm Gò Đồng quê ngoại tôi là bên bồi (cát, trài, cạn). Vì thế, muốn tắm trâu, anh em tôi phải đánh trâu bơi về phía bờ tả ngạn. Vì thế, trong một bài thơ, tôi đã viết:
Khúc sông gắn với tuổi thơ tôi bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Đó là những khi được các anh tập bơi bằng cách cho Chuồn Chuồn Cồ cắn rún trước khi nhảy xuống sông ở ngay chỗ Bờ Lác gần Lỗ Lở, sát dưới vườn nhà cũ đời ông cố tôi. Khi đã biết bơi, trời phú cho làn hơi dài để hát vọng cổ nên tôi được xem là người lặn lâu nhất trong xóm. Lặn hơi dài nhưng vì không có tay “sát cá” nên khi đi lặn cá đánh mìn trên sông tôi luôn thua anh Tám tôi và thằng Bường cùng xóm. Thường khi đi lặn cá đánh mìn thì cá bắt được mỗi người đều lận vào lưng quần dây thun để khi đầy thì mới đưa lên bờ một thể. Chính vì lẽ đó, trước khi xổ hết cá lên bờ, chuẩn bị về thì cởi quần đùi để “guộc” bớt vãy cá cho đỡ tanh (xem như một lần giặt quần xà lỏn). Một đêm, khi cùng mấy anh em đi mò cá lúc sông cạn do thủy triều rút, sau khi xổ cá từ quần bỏ vào giỏ chung thì tôi cởi quần để giặt. Cởi quần dưới nước, “guộc” xong thì vừa bơi vừa mặc quần vào trước khi lên bờ. Vì Bờ Lác chỗ Lỗ Lở nên nước hẳm sâu, mặc quần dưới nước nên hai chân tôi xỏ chung vào một ống. Khi kéo quần lên, cái ống quần đùi như một sợi dây bó hai chân lại một, không quẫy được. Vậy là tôi chìm. Tôi cố đập nước hai tay để tạo tiếng động và nước tung tóe lên cầu cứu mọi người. Nhưng vì biết tôi lặn giỏi nên ai cũng nghĩ tôi đùa, chẳng ai nghĩ tôi bị đuối nước. Thấy quẫy quá lâu, mọi người sinh nghi, mới nhảy xuống kéo vào. Kéo lên vẫn thấy tôi chưa mặc quần nên mới biết ra sự thể. Vậy là uống một mớ nước mặn vào bụng và suýt đuối nước do sự cố bất ngờ dù đã biết bơi.
Cũng từ Lỗ Lở bên này, một chiều mùa Hè, lùa đàn trâu xuống để cởi trâu bơi qua bờ bên kia (bên bồi) tắm trâu. Lúc đó, thằng Mười Anh - em kế của tôi chưa biết bơi. Tôi đặt nó ngồi trước tôi trên lưng con trâu đực cổ. Ai ngờ, do mùa Hè nắng nóng, trâu ham nước nên vừa đánh xuống sông nó đã lặn một hơi dài cho đã. Thân trâu chìm dần xuống tận đáy sông. Vậy là hai anh em đành bỏ lưng trâu, trồi lên để thở. Mười Anh hụp được vài cái đầu, rồi chìm dần. Tôi hoảng hốt, nhưng cố bình tĩnh, nén hơi lặn xuống, đút đầu vô háng nó, hai chân đùn xuống chạm đáy sông để lấy điểm tựa, rồi dùng hai chân và hai tay đạp, tung nó lên khỏi mặt nước để lấy hơi. Cứ thế, cứ thế, một chặp, rồi cũng tới được bãi cạn bờ bên kia. Sau này, tôi cứ nghĩ, con trâu ngay lúc xuống sông đã lặn rồi, anh em tôi chỉ mới ra khỏi bờ bên này khoảng vài ba mét, vậy mà sao cái đoạn trồi lên hụp xuống của hai anh em tôi lại nhanh đến bờ bên kia là vậy? Cứ như có ai phù hộ! Quá hoảng sợ nên lúc cho trâu về, thằng em trai tôi không dám cỡi lưng trâu nữa, mà cứ vậy ở truồng chạy thẳng một mạch xuống cầu Bà Giày cách đó khoảng 500 mét để qua cầu chạy bộ về nhà. Một lần là nhớ cả đời, cho nên mấy hôm sau, dù sợ đau, em trai tôi vẫn phải chịu để cho tôi bắt Chuồn Chuồn Cồ cắn rún, xô xuống Lỗ Lở tập bơi.
Còn Sông Trầu - Ngay dưới ngôi nhà Bà Giàu bên trái ảnh chính là đầu phía Bắc của Cầu Bà Giày cũ (Ảnh do MBA chụp từ đầu Nam cầu Nguyễn Phùng hiện nay)
Dọc rìa phía Bắc Khu vườn nhà thứ 1 có trồng một lũy tre ven Sông Trầu chống lở, tới mùa, chim Dồng Dộc (quê tôi gọi là Dồn Dột) về làm tổ khắp ngọn tre. Canh khi biết chim con sắp ra ràng, là chúng tôi leo lên để bắt về nuôi. Khác với bắt tổ chim Dồng Dộc trên ngọn Bàng, ngọn Sợp…, kể cả ngọn Tre trên đồng cạn; cái lý thú của bắt tổ chim Dồng Dộc trên ngọn Tre ven sông chính là mức độ dễ và khá an toàn, miễn là biết bơi và có gan. Cứ men theo bụi Tre, né gai mà trèo lên. Lên tới ngọn thì chọn cây có tổ chim đã ra ràng mà leo lên. Lúc đó thân Tre do sức nặng của người trèo sẽ nghiêng ra phía sông. Không sao! Cứ yên tâm vì thân Tre cứng mà dẽo không bao giờ gãy ngang. Ngọn Tre có ngã xuống, sà ngang mặt sông cũng không sợ, vì rủi có rớt xuống thì đã có nước sông đỡ ở dưới. Vì thế yên tâm chọn cái cành Tre có mấy tổ chim ra ràng, bẽ rời và gom lại cầm ở tay trái. Dùng tay gút cái cổ miệng dài nhằng của tổ chim lại cho chim con khỏi rơi. Xong đâu đó, dùng tay phải và chân đẩy ngọn Tre vào phía trong lấy lực, rồi vít ngược lại ra phía sông, ngọn Tre sẽ ngã dần xuống mặt sông, đợi hết lực ngã, ta thả tay phải rời khỏi ngọn Tre, cho người rơi xuống sông. Bùm! Tay phải và chân bơi đứng, tay trái giơ các tổ chim lên khỏi mặt nước, lần vào bờ. Vậy là xong! Có trèo lên mà khỏi mất công thực hiện công đoạn trèo xuống khó khăn hơn!
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.