• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
EM ƠI HÀ NỘI PHỐ VÀ THƠ

EM ƠI HÀ NỘI PHỐ VÀ THƠ



                                                        NGUYỄN THANH TUẤN

“Hà Nội, thủ đô yêu dấu một thời đạn bom, một thời hòa bình” luôn trong tim mỗi người dân Việt. Là nguồn cảm hứng dạt dào chảy suốt chiều dài lịch sử một ngàn năm từ Đông Đô qua Thăng Long đến Hà Nội. Yêu Hà nội, ta càng thiết tha với những vần thơ viết về mảnh đất “linh thiêng, hào hoa” này:

“Em ơi! Hà Nội phố!

Ta còn em mùi hoàng lan

Ta còn em mùi hoa sữa

Tiếng giày gọi đường khuya
Thang gác cọt kẹt thời gian”

    (Phan Vũ - Hà Nội phố)

“Hà Nội phố” thẳm sâu trong tâm hồn người Việt như dòng máu chảy trong tim. Hà Nội sâu lắng, dịu dàng, thăm thẳm như “mùi hoàng lan” trong đêm khuya vắng và nồng nàn như mùi hoa sữa trên phố Nguyễn Du. Tiếng giày quẹt trên đường vắng, tiếng thang gác cọt kẹt trong những căn nhà cổ như gậm nhấn thời gian. Hà Nội còn là những gì gần gũi, thân thương, giản dị như chính da thịt, chính hơi thở của mỗi người: “Ta còn em một gốc cây/ Một cột đèn/ Ai đó chờ ai/ Tóc cắt ngang/ Xõa bờ vai ...”, “Ta còn em đường lượn mái cong / Ngôi chùa cũ/ Tháng năm buồn lệch xô ngói âm dương/ Ai đó ngồi bên gốc đa/ Chợt quên ai kia/ Đứng đợi bên đường”. Hà Nội luôn hiển hiện, luôn hằn sâu trong cả ý thức và tiềm thức của mỗi người. Đó là: “Xào xạc chùm cây gió/ Chiếc lá lạc vào căn xép nhỏ/ Lá thư quên địa chỉ/ Quay về ”, “Ta còn em con đường vắng/ Rì rào cơn lốc nhỏ/ Gót chân ai qua mùa lá đổ”. Là mùi hoàng lan, là hương hoa sữa, là tiếng thang gác cọt kẹt trong đêm rồi dần đi sâu vào giấc ngủ. Được ở Hà Nội, cảm xúc vẫn miên man. Người xa Hà Nội nghe lòng bỏng cháy:

“Hà Nội mùa này sấu chín chưa em?

Hàng me Sài Gòn đang vào mùa thay lá

Thoang thoảng vị chua khiến lòng anh nhớ quá

Nhớ mùa sấu rụng phố Tràng Thi

 

Nhớ dáng em ngồi, nhớ bước em đi

Nhớ tiếng em cười, hờn ghen bóng gió

Yêu em, yêu em vì em là ngọn lửa

Hơi ấm lòng anh khi tất cả đã xa vời”

(Lê Giang - Hà Nội mùa này sấu chín chưa em)

Đoạn thơ 8 câu, với 68 chữ nhưng trong đó là đầy ắp các tính từ thể hiện cảm xúc. Có đến 5 tính từ “nhớ” và cảm xúc được đẩy lên cao bằng 2 tính từ “yêu”. Cùng với nó là 7 đại từ “em”, tổng của 5 “nhớ” và 2 “yêu”. Tình yêu và nỗi nhớ như vượt ra mọi giới hạn của thời gian (Hà Nội mùa này><mùa sấu rụng phố Tràng Thi) và không gian (Hà Nội><Sài Gòn) nhưng vẫn chỉ hướng về “em”, nằm gọn trong nỗi nhớ về riêng “em” thôi. “Em” là Hà Nội, “là ngon lửa”, là “Hơi ấm lòng anh khi tất cả đã xa vời”. “Hơi ấm” ấy giúp anh mạnh mẽ vượt qua sự hủy diệt của thời gian và những gian lao, vất vả trên đường đời. Những lúc khó khăn nhất có Hà Nội ở trong anh và: “Tuổi đang yêu chua chát cũng ngọt bùi/ Trái sấu chia đôi tay - và - tay - chấm - muối/ Chỉ có vậy mà lòng anh bối rối/ Ðể bây giờ thèm sấu nhớ tay ai”? Tất cả nuôi trong tâm hồn người xa Hà Nội một niềm khát khao bỏng cháy, khát khao quay về: “Anh muốn tức thì hoá cánh chim bay/ Ra nhặt sấu giữa phố đông Hà Nội/ Cho hai đứa lại xoè tay chấm muối/ Có sao đâu, dù sấu đã trái mùa”.

Dẫu ở Hà Nội hay phải đi xa thì tất cả đều chung một “trái tim”, chung một “nhịp đập” và chung “dòng máu chảy”. Hà Nội luôn trong tim mọi người:

“Anh đã xa Hà Nội lâu chưa?

Để em kể anh nghe về Hà Nội

Dù bây giờ em vẫn đang bối rối

Chẳng biết làm sao để kể hết anh nghe.”

                                   (? - Thơ cho người xa Hà Nội)

Mối liên hệ này, giúp người xa Hà Nội vẫn nghe rõ: “Tiếng ve râm ran trên đường Trần Phú/ Bóng chị lao công giờ vẫn như ngày cũ/ Hàng Đào, Hàng Ngang phố vẫn tấp nập đông”. Dẫu “anh không về” nhưng anh biết “mẹ nhớ anh muôn phần/ Hà Nội nhớ...và nhiều người cũng nhớ”.

Hà Nội trong anh, trong em, trong mọi người là kinh đô Thăng Long xưa với nỗi nhớ vượt qua một ngàn năm lịch sử, trở về với nét rêu phong đượm màu thời gian và ngưng đọng trong dòng ký ức xa xăm:

“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.

                  (Bà Huyện Thanh Quan - Thăng Long thành hoài cổ)

Tất cả chỉ là hoài niệm, cái hoài niệm có khả năng dựng lại quá khứ. Những cái của “ngày xửa ngày xưa” hiện hữu. “Xe ngụa”, “lâu đài” là hiện thân của quyền uy lừng lẫy và cơ đồ nguy nga của nhà nước Phong Kiến xa xưa. Tất cả chập chờn, ẩn hiện như trong giấc mộng “hồn thu thảo”, “bóng tịch dương”. Ngược lại cái ngày nay lại mong manh, hư ảo. Tất cả chìm ngập trong nỗi buồn, trong sự xót xa, luyến tiếc đến day dứt khắc khoải lòng người. Dẫu biết rằng bản chất của thời gian là hủy diệt, dẫu thấu hiểu tận cùng lẽ thịnh - suy nhưng vẫn khôn nguôi nhớ nhung, luyến tiếc “hồn cố quốc ở đâu rồi”?

Nhớ về Hà Nội là nao nức nhớ về mùa thu. “Hà Nội mùa thu/ Mùa thu Hà Nội/ Mùa hoa sữa về thơm từng cơn gió/ Mùa cốm xanh về thơm bàn tay nhỏ/ Phố xưa vỉ hè thơm bước chân qua”. Giữa lúc cả nước đang hân hoan chào đón đại lễ Ngàn năm Thăng Long - Hà Nội thì đất nước cũng bước vào thu, ta nhói lòng khi đọc lại những câu thơ trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Tôi nhớ những ngày thu đã xa

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.

          “Hương cốm mới”, “thềm nắng”, “lá rơi”...là tất cả những gì gần gũi thân thương, là linh hồn Hà Nội. Hà Nội trong mỗi chúng ta giản dị lạ thường, đó là những gì quý nhất mỗi người mang theo. “Người ra đi” có vẻ như mạnh mẽ, như dứt khoát vô cùng “đầu không ngoảnh lại” nhưng vẻ bề ngoài không che dấu được những rằng xé, đớn đau khi phải rời xa mảnh đất yêu thương này. Hà nội không chỉ được cảm nhận bằng trực giác mà còn được cảm nhận bằng linh giác, bằng hoài niệm. Mặc dù “đầu không ngoảnh lại” nhưng người ra đi vẫn cảm nhận, vẫn nhìn thấy bên thềm nắng vàng lên rực rỡ, từng chiếc lá lìa cành nhẹ nhàng chao nghiêng, chao nghiêng trong gió thu, khẽ xoay xoay rồi nhẹ nhành đáp xuống thềm như đang ngồi ngay trên thềm nắng vậy.

          Ôi! Hà Nội, Hà Nội ta yêu như trái tim mình. Với “Chiều phủ Tây Hồ” nhà thơ Thái Thăng Long cho ta thấy một vẻ đẹp huyền thoại và độc đáo của Thủ đô Hà Nội:

“Sương giăng đỉnh núi mờ xa

Phủ Tây Hồ bâng khuâng huyền thoại

Xa xa hạc trắn bay về

Hồn ta tĩnh lặng bên chùa nắng

Gió Tây Hồ thổi mãi mái rêu phong”.

          Một vẻ đẹp huyền ảo, xa xăm chỉ có thể cảm nhận được bằng trái tim, bằng lòng yêu Hà Nội. Tâm hồn phải hoàn toàn tĩnh lặng, lắng vào chiều sâu để cảm nhận âm thanh của “Sương giăng đỉnh núi mờ xa”, “Xa xa hạc trắn bay về” và màu sắc của “mái rêu phong”. Vẻ đẹp linh thiêng của Hà Nội không thể cảm nhận được bằng ngũ giác mà phải cảm nhận bằng chiều sâu tâm hồn và truyền thống văn hóa của người Việt.

          Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội mãi mãi là niền tự hào của mọi thế hệ người Việt:

“Hà Nội có Hồ Gương

Nước xanh như pha mực

Bên hồ ngọn Tháp Bút

Viết thơ lên trời cao”.

             (Trần Đăng Khoa - Hà Nội)

          Trong đôi mắt trẻ thơ hồn nhiên và đầu óc giàu sức tưởng tượng của cậu bé Trần Đăng Khoa, Hà Nội không phải là thủ đô lộng lẫy, nguy nga mà là chất thơ, nét văn hiến ngàn đời. Hà Nội là niềm tự hào của mọi thế hệ người Việt, nhất là thế hệ trẻ. Là mảnh đất của những con người “Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa”. Hà Nội hiện lên bằng bản sắc văn hóa truyền thống cao đẹp tự “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/ Đất nước hóa thành văn”.

          Những vần thơ về kinh đô Đông Đô, Thăng Long, Hà Nội sẽ mãi làm rung động mọi tâm hồn. Nó hồn nhiên đi vào âm nhạc để mãi mãi cất lên niềm tự hào lớn lao của người Việt: “Em ơi! Hà Nội phố/ Ta còn em nóc phố mồ côi mùa đông/ Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông”... “Em ơi! Hà Nội phố”!

 

 

 

 



Tin tức khác

· CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975
· LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG
· TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG
· NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA DƯƠNG HƯỚNG
· NHÀ THƠ ĐẶNG ĐÌNH HƯNG - MỘT CUỘC CÁCH TÂN THƠ ÂM THẦM - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· 40 NĂM TÌM CON GÁI CHO CHA
· NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
· VÀM CHÀ LÀ - MIỀN KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA LUẬT SƯ, CHỦ TỊCH NGUYỄN HỮU THỌ
· MỘT CƠN MƯA RẤT NHẸ TRÊN VAI TRỊNH CÔNG SƠN
· TẾT TRONG VĂN HỌC NAM BỘ HIỆN ĐẠI - KÝ ỨC BẢN ĐỊA TRƯỚC DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI
· NGUYỄN BÍNH - NGƯỜI GỌI HỒN QUÊ - Tiểu luận HỮU THỈNH
· BỘN BỀ CUỘC SỐNG TRONG THƠ PHAN HOÀNG
· BẤT NGỜ... ĐỖ NGỌC YÊN
· HÃY SỐNG NHƯ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT - MỘT NHAN ĐỀ ĐỘC ĐÁO
· NỖI NHỚ TẾT NHÀ QUA NHỮNG TRANG VIỆT NGỮ Ở HẢI NGOẠI
· TRUYỆN NGẮN HỒ LOAN VÀ HAI PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· PHẠM NGỌC CẢNH VÀ TÂM TÌNH MỘT NHÀ THƠ MẶC ÁO LÍNH
· CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC - THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
· TRUYỆN NGẮN NĂM 2025 - MỘT NĂM ĐƯỢC MÙA - Tiểu luận HOÀI NAM
· DẤU XƯA NHẤT LINH

Tin tức mới
♦ CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975 (03/03/2026)
♦ LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG  (03/03/2026)
♦ TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG (03/03/2026)
♦ ĐÊM THƠ NGUYÊN TIÊU BÍNH NGỌ 2026 TẠI XÃ TAM MỸ: 'TRƯỚC BIỂN LỚN: QUÊ HƯƠNG - TIẾNG THƠ, NHỊP SÔNG' (03/03/2026)
♦ NGÀY THƠ VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH: 'TIẾNG GỌI ĐÔ THỊ MỚI' (03/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1907178
Trong thang Trong tháng: 177651
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 83933
Truc tuyen Trực tuyến: 6

...

...

Designed by VietNetNam