TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
HÀ HUY HOÀNG VỚI THƠ VÀ BÌNH THƠ
HÀ HUY HOÀNG VỚI THƠ VÀ BÌNH THƠ
NGUỒN: Vanvn- Cập nhật ngày: 23 Tháng mười một, 2024 lúc 23:14
Có thể nói, quen và biết Hà Huy Hoàng rất lâu, trên những trang thơ các báo, tạp chí văn nghệ trung ương và địa phương. Mãi đến năm 2002, vào một ngày cuối đông, chúng tôi gặp nhau ở trại sáng tác Đà Lạt. Hoàng dễ mến, luôn cười hiền với ánh mắt xa xăm.
Nhà thơ Hà Huy Hoàng ở Quảng Ngãi
Một sáng mai, dưới gốc thông già, bên bờ hồ loang nắng, bất chợt Hoàng đọc bốn câu lục bát:
“Anh ngồi nhấm nỗi nhớ em
Em ơi cay đắng đã mềm bờ môi
Cây cô đơn đã xanh chồi
Nơi anh nhặt lá và ngồi đợi em”
Chợt nhận ra trong đôi mắt xa xăm ấy còn chứa đựng “cả một trời yêu”. Yêu đến cỡ nào, ai đong đếm được? Chỉ biết người thi sĩ ấy đã đợi chờ từ lúc “cây si” nẩy mầm đến lúc rụng vàng những chiếc lá cô đơn, anh vẫn đợi chờ.
Hình như Hà Huy Hoàng đi vào thơ ca bằng bước chân lục bát sở trường. Anh có bài “Lục bát ở ga Sài Gòn” nhói lòng người đọc với hai câu kết:
“Khi người đánh mất lòng tin
Cái thằng tôi giá nửa nghìn đồng thôi”
(Tập “52 bài lục bát”- 2006)
Sự nhầm lẫn quái ác cuộc đời, đôi khi đẩy người ta một cách tàn nhẫn đi về góc khuất bọt bèo. Trong khi trái tim thi sĩ mở ra cái nhìn trang trọng, trìu mến trước một vẻ đẹp nào đó, bỗng dưng bị nghi ngờ “kẻ bất lương nhìn vàng”. Người con gái ấy ngoa ngoắt bỏ đi, ném cái nhìn khinh miệt về anh chàng thi sĩ từng hành nghề hủ tiếu gõ mưu sinh. Trên bước đường mưu sinh ấy, với bao bất trắc cuộc đời, anh vẫn đau đáu trong lòng một nỗi nhớ quê, nhớ mẹ:
“Qua phà Mỹ Thuận mưa bay
Mẹ ơi! Con mẹ từ rày vắng xa
Quạnh hiu nơi chốn quê nhà
Nhớ con mẹ lại vào ra một mình”
(Ly hương- 1994)
Bẵng đi thời gian khá lâu hơn mười năm trời, nghe đâu vì hoàn cảnh hết sức đặc biệt của gia đình nên anh bỏ viết, bỏ sinh hoạt hội hè; thui thủi kiếm tiền nuôi vợ nuôi con. Chính vì những điều này nên anh “vinh hạnh” được “tiễn” ra khỏi Hội Văn học- Nghệ thuật Quảng Ngãi. Anh em văn nghệ cũng không ai nhìn thấy bóng dáng anh đâu!
Thật bất ngờ sau thời gian bằn bặt tin nhau, bóng chim tăm cá, bỗng anh trình làng với hai tập sách, không phải những dòng lục bát ngọt ngào, mà nhảy sang lĩnh vực khác. Với hai tập
“Ngẫu cảm văn chương”. Tên cho tập sách có phần khiêm tốn “Ngẫu cảm”. Vì đây chẳng phải những trang phê bình, lý luận, chỉ là những xúc cảm khi đọc những tác giả trên văn đàn văn học Việt Nam. Từ các cụ Hữu Loan, Quang Dũng, Hồ Zếnh, Yến Lan, Bích Khê, Hàn Mặc Tử… đến các nhà thơ đương đại như Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo… thậm chí đến các bạn thơ cùng huyện lỵ với anh. Có hơn một trăm nhà thơ trong và ngoài nước được anh trải lòng bằng những cảm xúc mộc mạc, chân thành mà không kém phần tinh tế. Có lẽ đây là sự cộng hưởng giao thoa trên khung trời văn học. Hầu như các thuật ngữ, chuyên ngành lý luận, phê bình anh không hề đá động. Bởi anh đến với thơ ca bằng những rung động từ trái tim và tâm hồn đa cảm của mình.
Song song với việc đăng tải những bài thơ, người ta còn thấy anh liên tiếp xuất hiện những bài bình thơ trên các báo và tạp chí: Văn Nghệ, Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Giáo dục và Thời đại, Văn nghệ Kon Tum, Báo Quảng Ngãi…
Cách cảm nhận, viết lời bình của anh có gì đó rất riêng, thiên về cảm xúc. Đấy chính là dấu ấn đặc biệt của anh. Ví như cảm nhận bài thơ “Một nửa” của nhà thơ Thanh Thảo, anh viết: “Đọc thơ ông ta thấy con chữ thì gần gũi, trong veo mà nghĩa của nó như sau lớp sương mù. Vén màng sương lên, ta lờ mờ cảm được ý trên thì câu thơ dưới phản biện ta tức khắc… một. Bởi vậy cảm được thơ Thanh Thảo cho thấu đáo không bao giờ là việc dễ dàng. Tuy nhiên, khi viết về người mẹ yêu thương của mình, ông vẫn “châm chước” dành cho chúng ta ít nhiều khoảng trống. Chính cái khoảng trống này ta mới thâm nhập vào bài thơ một cách… dễ thở. Xin lỗi, tôi chỉ nói “dễ thở” thôi chứ không hề bảo là “thở dễ” đâu ạ.”.
Hay cảm nhận về bài thơ “Với đứa con ngoài giá thú” của nhà thơ Vương Trọng, anh đã bày tỏ sự đồng cảm của lòng mình một cách tinh tế: “Với Vương Trọng, trước sau và cho đến tận ngày nay, ông vẫn trung thành với lối thơ truyền thống. Ông không hề bận tâm đến việc cách tân thơ. Vẫn chặt chẽ cấu tứ, vẫn vần điệu nhịp nhàng, vẫn cảm xúc và thăng hoa trong từng câu chữ…
Hay như bài thơ “Sợi tóc” của nhà thơ Phạm Đình Ân, đoạn mở đầu anh viết: “Thường thì các đôi lứa khi yêu nhau họ hay tặng nhau như chiếc khăn tay, hoặc nhẫn hoặc cuốn sổ tay… để giữ làm kỷ niệm. Nhưng trong bài thơ này, cô gái tặng cho chàng trai kỷ vật: “Em tặng tôi sợi tóc của em…” Anh cảm bằng những dòng văn đầy chất thơ, quyến rũ: “Sợi tóc vẫn còn đen nghĩa là sợi tóc hãy còn xanh mướt lắm. Dài và xanh như cỏ tháng giêng, như cái hồi anh đôi mươi và em mười tám. Khi đó môi em đương đỏ má em đương hồng, còn anh thì vồng ngực căng tràn sức trẻ…”.
Và khi bình bài thơ “Cũng may là còn” của nhà thơ Phạm Đương, ở đoạn kết anh có nhận xét thật thấu tình đạt lý: “… Riêng tôi, tôi cảm nhận thơ của người thi sĩ này thật hay nhờ trải nghiệm, giàu ý tưởng và sáng tạo không ngừng. Đặc biệt, Phạm Đương “mới nhất” trong thế hệ các nhà thơ đã trưởng thành từ sau 1975 và cho đến tận ngày nay của quê hương miền núi Ấn sông Trà”.
Có thể nói với cảm nhận tinh tế của mình, Hà Huy Hoàng đã thăng hoa những cảm xúc đi vào hồn cốt từng bài thơ của nhiều tác giả để trải lòng cảm nhận. Ít nhiều theo cá nhân tôi, với hai tập sách “Ngẫu cảm văn chương” dày trên sáu trăm trang là một cố gắng vượt bậc, trong nỗi đam mê của một người yêu mến thơ ca. Mới đây, anh có niềm vui lớn, trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam với lời giới thiệu đầy yêu thương, trân trọng của hai nhà thơ “cây đa cây đề” xứ Quảng: Thanh Thảo và Phạm Đương.
Xin cảm ơn nhà thơ miền núi Ấn sông Trà, cám ơn người thi sĩ “chân quê” của xóm Cung, Đức Phổ, Quảng Ngãi, đã gửi tặng tôi hai tập sách nói trên.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.