• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
KHÔNG THỂ CÓ SẮC MÀU CHUNG CHO CÁC LÁ CỜ THƠ

KHÔNG THỂ CÓ SẮC MÀU CHUNG CHO CÁC LÁ CỜ THƠ



                          Đỗ Quyên

 

 

 

 

Trong cảnh quang toàn cầu hóa, như mọi lĩnh vực văn nghệ khác, với tư cách đối tượng, thơ cũng bị hoặc được thay đổi bản sắc của mình; và với tư cách chủ thể, bản sắc thơ đã dự phần làm quá trình toàn cầu hóa đa sắc nhiều màu hơn. Ở tương quan kép, khi thơ là kết quả, bản sắc thơ từng bị nguy cơ hết tính thơ, mất chất thơ trong thời (hậu) hiện đại; khi thơ là nguyên nhân, bản sắc thơ cũng phải nhận bản án Nàng Thơ đã bỏ cuộc chơi - bỏ chú Cuội bỏ chị Hằng theo ông đại gia Bill Gates leo lên lưới!

 

Nhớ lại, toàn cầu hoá, với nghĩa nguyên thủy, khởi đầu khoảng thế kỷ 15, nhất là khi F. Magellan thực hiện chuyến viễn dương năm 1522; còn thuật ngữ “toàn cầu hoá” ra đời vào những năm 1950, và được được dùng chính thức trong giới chuyên môn và đại chúng từ những năm 1990. Nếu theo các mốc thời gian trên tìm đến một vài hiện tượng quan trọng của thơ thế giới qua các trào lưu văn học tiêu biểu, chúng ta không thể không nhận ra rất nhiều đổi thay xung quanh thơ. Ví dụ: thơ, một mặt, giữ bản sắc “truyền thống” như là hình thức đặc sắc của nghệ thuật bằng phương tiện ngôn ngữ; mặt khác nó tự thay đổi để có thêm bản sắc “hiện đại” như thành phần của xã hội mà ngôn ngữ là cả phương tiện lẫn mục đích. Không ít người tưởng bản sắc và truyền thống là bất biến, là thuộc về quá khứ. Thì đây, toàn cầu hoá là ví dụ đẹp và mạnh cho việc thay đổi khái niệm bản sắc nói chung, trong đó bản sắc thơ giống như “Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa”.

 

Bản sắc thơ Việt là đề tài mà mọi người, dù ở chính kiến và thẩm mỹ nào cũng có thể không quá khó khăn khi cùng muốn đưa các nét chính yếu. Để kịp dùng tại đây, tôi sẽ nêu nhanh Dàn bài 21 đặc điểm thơ Việt mà mình hằng lưu tâm dù chưa thể hoàn thiện…

 

Nói chung về thơ Việt: 1. Nhạc điệu uyển chuyển; 2. Tứ thơ quyết định ý, nghĩa và thi ảnh; 3. Thiên về cảm tính, diễn tả; nhiều tình mà ít chân. 4. Hình tượng đẹp, lôi cuốn; 5. Không chuộng tư tưởng, triết lý; 6. Ít biến động về thi pháp; chậm thay giọng điệu; hiếm bất ngờ; 7. Ngôn ngữ tinh tế, chiều chuộng tu từ, lơ là cú pháp; 8. Cá tính tác giả không nổi trội; 9. Hình thể khá ổn cố; cấu tứ không đa dạng; 10. Không gần văn xuôi, văn nói; 11. Lục bát là thể loại gốc; 12. Nội dung trọng lòng yêu nước, tình đồng bào, nghĩa gia đình; nhân bản mạnh hơn nhân sinh; 13. Hướng ngoại hơn là hướng nội: ít chất liệu đời sống cá nhân; nặng về thời đại, thế sự, thiên nhiên; 14. Chịu ảnh hưởng sâu nặng của thơ Đường luật; 15. Cái Tôi ít được là chủ thể; 16. Quan hệ Thiên – Địa – Nhân lấn át quan hệ Người – Người; con người cần thiên nhiên hơn là ngược lại; 17. Sáng tác vượt xa phê bình, học thuật; 18. Giỏi về bình điểm, khá về nhận định; non về phê bình; chậm về nghiên cứu; trống về lý luận; 19. Ngâm và vịnh là các cách thưởng thức đồng sáng tạo; 20. Cuộc cách mạng đầu tiên là phong trào Thơ mới 1932-1945 thay đổi hầu hết bản sắc thơ Việt, với ảnh hưởng của thơ Pháp và từ đó tới nay với nhiều nền thơ thế giới; 21. Đóng góp hữu hiệu nhất với xã hội thời hiện đại là dòng thơ cách mạng và thơ chiến tranh; v.v…

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, rõ rằng bản sắc thơ Việt biến đổi chậm. Tại sao? Nó có cần thiết biến đổi không? Nếu cần, làm thế nào? Và nếu không thì sao? v.v… Các câu hỏi đó, thiển nghĩ, không hề dễ trả lời. Xin tâm sự và mong được hiểu đúng ý: kể từ khi biết làm thơ và nhất là khi biết-mình-là-người-Việt, tôi thấy: Một, bản chất của thơ, so với các loại nghệ thuật khác, vốn cực kỳ tinh tế, những gì không-thơ không thể nào can thiệp vào; Hai, – quyết định – dân tộc Việt chúng ta phải nói là một dân tộc khá đặc biệt, với không ít các yếu tính mà nhiều dân tộc khác không có. Đây, một ví dụ như là nghịch lý trong vấn đề thơ: rất say mê thơ, sành thơ; trong tiếng Việt có chữ kép “thơ ca” nhưng dân Việt ít khiếu thẩm âm mà thơ Việt, với tôi, nhạc tính là đầu bảng! ; Ba, nếu tạm dùng tiêu chí theo một số điểm chính trong Dàn bài trên thì quả là bản sắc thơ Việt còn nhiều so lệch với chuẩn mực thơ-toàn-cầu mà thực chất là chuẩn mực văn hóa, ngôn ngữ của Tây Âu và nhất là của Bắc Mỹ.

 

Nhưng ngay cả thơ Trung Hoa - một nền thi ca “hùng mạnh” đến thế, “lâu đời” đến thế, “giàu có” đến thế - cũng không thể dễ nhập vào xu hướng thơ toàn cầu. Trong khi đó thơ Nhật là một dòng thơ Đông phương gần như duy nhất tiếp cận, đối thoại, rồi chinh phục được thơ-toàn-cầu. 

 

Cuối cùng, tôi vững tin, giữa gần một chục bộ môn văn nghệ, thơ là loại hình nghệ thuật mang bản sắc dân tộc hơn hết. Khi Xuân Diệu viết “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”, cũng nên hiểu thi sĩ đã coi thơ là một chủ thể trữ tình. Vâng: Thơ là một, là riêng, là thứ nhất! Nếu đã không thể có quan niệm văn hóa của quốc gia này “hay” hơn văn hóa quốc gia khác, thì cũng không thể có chuyện thơ Trung Quốc “hay” hơn thơ nước Mỹ . Thơ là văn hóa, là dân tộc. Có dân tộc lớn mạnh, có quốc gia yếu nhỏ, có nước bé nghèo, có văn hóa trẻ; chứ không hề có chuyện dân tộc “hay”, quốc gia “hay”, văn hóa “hay” hơn dân tộc, quốc gia, văn hóa khác!

 

Để kết thúc, mời tất cả hãy cùng thay chữ “thơ” vào chữ “văn hóa” trong câu sau: “Ngày nay, do sự suy yếu của các đường biên quốc gia, chúng ta thấy được những nền văn hóa nhỏ bé, thầm lặng, từng bị lãng quên đang hồi sinh và bộc lộ những dấu hiệu sống tích cực trong dàn hòa tấu vĩ đại của một hành tinh đang toàn cầu hóa.” (Mario Vargas Llosa; theo Văn Nghệ)

 

Nguồn: Văn nghệ Trẻ



Tin tức khác

· CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975
· LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG
· TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG
· NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA DƯƠNG HƯỚNG
· NHÀ THƠ ĐẶNG ĐÌNH HƯNG - MỘT CUỘC CÁCH TÂN THƠ ÂM THẦM - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· 40 NĂM TÌM CON GÁI CHO CHA
· NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
· VÀM CHÀ LÀ - MIỀN KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA LUẬT SƯ, CHỦ TỊCH NGUYỄN HỮU THỌ
· MỘT CƠN MƯA RẤT NHẸ TRÊN VAI TRỊNH CÔNG SƠN
· TẾT TRONG VĂN HỌC NAM BỘ HIỆN ĐẠI - KÝ ỨC BẢN ĐỊA TRƯỚC DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI
· NGUYỄN BÍNH - NGƯỜI GỌI HỒN QUÊ - Tiểu luận HỮU THỈNH
· BỘN BỀ CUỘC SỐNG TRONG THƠ PHAN HOÀNG
· BẤT NGỜ... ĐỖ NGỌC YÊN
· HÃY SỐNG NHƯ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT - MỘT NHAN ĐỀ ĐỘC ĐÁO
· NỖI NHỚ TẾT NHÀ QUA NHỮNG TRANG VIỆT NGỮ Ở HẢI NGOẠI
· TRUYỆN NGẮN HỒ LOAN VÀ HAI PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· PHẠM NGỌC CẢNH VÀ TÂM TÌNH MỘT NHÀ THƠ MẶC ÁO LÍNH
· CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC - THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
· TRUYỆN NGẮN NĂM 2025 - MỘT NĂM ĐƯỢC MÙA - Tiểu luận HOÀI NAM
· DẤU XƯA NHẤT LINH

Tin tức mới
♦ CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975 (03/03/2026)
♦ LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG  (03/03/2026)
♦ TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG (03/03/2026)
♦ ĐÊM THƠ NGUYÊN TIÊU BÍNH NGỌ 2026 TẠI XÃ TAM MỸ: 'TRƯỚC BIỂN LỚN: QUÊ HƯƠNG - TIẾNG THƠ, NHỊP SÔNG' (03/03/2026)
♦ NGÀY THƠ VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH: 'TIẾNG GỌI ĐÔ THỊ MỚI' (03/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1907559
Trong thang Trong tháng: 178034
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 83933
Truc tuyen Trực tuyến: 4

...

...

Designed by VietNetNam