• Trang chủ
  • Bích Khê
  • Tác phẩm
  • Thi hữu
  • Diễn đàn lý luận
  • Thơ phổ nhạc
  • Tư liệu
  • Tin văn
  • Bạn đọc
  • Liên kết website
  • Thi tập
  • Tự truyện
MENU
  • Thi tập
  • Tự truyện
Hỗ trợ - Tư vấn
Thông tin cần biết
TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương 
Tôi mang lên lầu lên cung Thương 
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng 
Tình tang tôi nghe như tình lang 

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi 
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi 
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi 
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi 

Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu 
Sao tôi không màng kêu: em yêu 
Trăng nay không nàng như trăng thiu 
Đêm nay không nàng như đêm hiu 

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân 
Buồn sang cây tùng thăm đông quân 
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng 
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông. 
 
Diễn đàn lý luận
 
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH - THI SĨ CỦA NHỮNG GIẢ HỢP

MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH - THI SĨ CỦA NHỮNG GIẢ HỢP



NGUỒN: Baovannghe.vn - 13/09/2024

Minh Đức Triều Tâm Ảnh là bút hiệu của Tỳ kheo Giới Đức, một trong những hàng cao tăng của Phật giáo Nguyên Thủy ở Huế. Ông cũng là người khai lập Huyền Không Sơn Thượng trên hòn Vượn ở phía Tây thành phố Huế. Ngoài tu học và giảng Phật pháp, ông còn viết văn, làm thơ và viết thư pháp, tạo vườn cảnh phong thủy hữu tình... Năm 2011 ông âm thầm chia tay với thi ca bằng tuyển tập bốn cuốn thơ với tựa đề Bụi, Trăng và Lửa do nhà xuất bản Văn học ấn hành. Tôi không quan tâm đến lý do một thi sĩ ly khai thơ. Bởi với tôi thơ và người thơ không phải là câu chữ, càng không phải là những mảnh giấy được công nhận bởi tổ chức nào đó. Vì thơ là dòng xúc cảm, sự cảm nhận của con người với thế giới quan bên ngoài, hoặc có thể là cơn rạo rực từ bên trong mỗi cá thế. Thế giới của thơ là sự bí mật của những cá nhân đơn độc, chỉ có thể chia sẻ điều đó cho những tâm hồn đồng điệu. Khi cầm trên tay bộ sách Bụi, Trăng và Lửa do thi sĩ Minh Đức Triều Tâm Ảnh ký tặng cùng với lời nhắn tràn ngập nuối tiếc “Thơ ơi! Xin giã biệt người!”. Tôi cảm động nhưng vẫn không tin con người đó có thể giã biệt toàn diện theo đúng tinh thần Thiền. Sự giã biệt thơ, không phải là không làm thơ, không viết thơ, không in thơ. Theo tôi sự giã biệt chính là tinh thần đoạn diệt bên trong của tác giả. Trở lại với những dòng thơ giả hợp của thi sĩ Minh Đức Triều Tâm Ảnh, tôi xin được bắt đầu với bài Lộ trình đen hay lộ trình mây đề tặng Phạm Công Thiện, Rimbaud và Nietszche được viết cách đây bốn mươi năm (1976). Chúng ta đều biết mây là một giả hợp được tạo ra từ nước, chỉ với một câu “Có khi nào vĩnh cửu ngụ trên mây!” nhà sư nhà thơ đã nêu ra một câu hỏi khẳng định, vì cuối câu là một dấu chấm than. Câu thơ phá tan sự hoài nghi, đi thẳng vào trung tâm của vấn đề giả hợp giữa cái trường tồn và cái giả tạm. Sự vĩnh cửu ngụ trên cõi giả tạm, chúng ta nhận ra ngay sự phi lý của logic. Chỉ một câu thơ như thế, tôi tin rằng nếu Rimbaud hay Nietszche hay Phạm Công Thiện tỉnh mộng sẽ bay về “đỉnh cô phong” để bắt tay cùng thi sĩ. Trong bài Cảm tạ và đóng đinh đề tặng Nikos Kazantzakis với tác phẩm Xin chọn người yêu làm thượng đế thi sĩ đã cảm nhận thực tại như một sự thất bại toàn diện qua hai câu thơ “Hiện hữu nào không là những thây ma/ Hiện hữu nào không nhân danh vĩnh cửu”, hai câu thơ đó một lần nữa khẳng định sự giả hợp của thực tại, của hiện hữu.

Minh Đức Triều Tâm Ảnh: Thi sĩ của những giả hợp
Thanh Tâm Viên: một cây cầu gỗ bắc qua ao sen, súng.

Đọc thơ Triều Tâm Ảnh chợt nhận ra khí thơ của tráng sĩ ẩn sâu trong những câu chữ, với nhịp điệu của kẻ lên đường cùng lưỡi kiếm xanh. Ngôn ngữ của ẩn sĩ mà sao chứa chan tình người với nhiều hình ảnh và âm thanh của bụi trần. Bày tỏ II là bài thơ rất thật của một tâm hồn lưu vong ngay trên quê xứ mình qua câu thơ: “Tôi chẳng biết nơi nao là quán trọ/ Kiếp vốn tha hương, cố quận bao giờ?”. Sự độc thoại nội tâm hay cuộc bày tỏ với chính mình để cuối cùng thi nhân tiết lộ: “Để biết mình không là gì cả/ Xin một đời rêu cỏ an tri!”. Thi nhân cũng là tu sĩ đối diện với tâm không, vậy mà cõi lòng luôn hướng về phía trần gian, cho dù chỉ một hạt bụi, một vi trần cũng đã đồng hành cái có: “Tôi chẳng có gì để lại cho em/ khi tôi phủi xác thân/ như phủi một hạt bụi rơi”.

Có ai ngờ ngôn ngữ của thi nhân ở nơi heo hút miền sơn cước nhưng chứa đầy thi tính, hừng hực một hạo khí của sự chuyển động bên trong để bộc phát ra thứ ảo giác tiệm cận với sự thật của hiện hữu. Ngôn từ uyên bác và thâm sâu trong thơ của nhà sư đã thể hiện phần nào sự tỏ ngộ của một người con Phật.

“Vì giác ngộ, lòng ta cơn gió lạ

Thổi lồng bồng, gác vắng với hiên khuya

Ta lất phất, thói đời cùng thói đạo

Rõ lắm rồi, cỏ rác cũng se sua!”

Những ngọn núi trong thơ Triều Tâm Ảnh là đỉnh cao cheo leo trong thế giới tâm, chỉ những tâm hồn cô đơn tận cùng mới trực diện và cảm nghiệm được ngọn núi tâm thiêng liêng ấy. Câu thơ “Mai mốt đi về, tất thảy hóa thành trăng!” trong bài Bụi, Trăng và Lửa lại một lần nữa khẳng định sự giả hợp mà tác giả đã cảm nghiệm suốt cuộc di trú của dòng tâm. Chúng ta đều biết rằng trăng là một giả tướng do nhiều yếu tố tạo thành, cơn mộng đẹp của vũ trụ giúp con người nhận ra đóa hoa của đêm đã giúp thế giới này giảm phần nào tăm tối, nhưng cái đẹp của sự vĩnh cửu tương đối đó chưa đủ mạnh để thức tỉnh những cơn cuồng loạn của nhân loại. Từ giả hợp của sự vật đến giả hợp của tâm tưởng qua cuộc cảm nghiệm sâu sắc của thi sĩ Triều Tâm Ảnh, người thơ đã gửi gắm hơi thở của mình quyện vào dòng đạo hạnh hằng mong gửi chút lực từ bi vào cuộc xoay chuyển uyên nguyên của đại cuộc trước bờ vực hư vô. Thơ của Triều Tâm Ảnh thi sĩ chính là hóa thân của đạo, của sự chuyển động ở tầng thâm sâu giữa mộng và thực, giữa hiện hữu và ẩn mật,... tất cả những gì mà ngôn từ tô vẻ chỉ là một giả hợp, hơn ai hết, thi sĩ, tu sĩ ở hòn Vượn là người cảm nghiệm rõ nhất về vô ngã, về giả tướng và giả hợp. Cho dù đó là Thiền tông, Tịnh độ tông, Đại thừa, hiện đại hay nguyên thủy, Ấn giáo hay Hồi giáo, Ki-tô giáo hay Mật giáo,... tất cả chỉ là bề mặt của ngôn từ, là cái bên ngoài cuộc mộng, với Phật giáo thực tướng của vạn vật là vấn đề cốt lõi, nhưng thực tướng là gì? Khi mà lý thuyết vô ngã xuyên suốt trong chiều dài của Phật giáo. Vậy, có thể hiểu “Bụi, Trăng và Lửa” chính là các giả hợp, vì mỗi hạt bụi như hoa đốm, chứa cả thế giới vật chất và ngược lại, cũng như vậy trăng chỉ là sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời và lửa ở nghĩa đen và cả nghĩa bóng khi rực cháy khi là tàn tro lạnh lẻo, có đó cũng không đó chỉ là giả hợp của vật chất và nhờ khí oxy để cháy. Hai câu thơ trong bài thơ Bày tỏ IV cho người đọc cảm được tâm của một nghệ sĩ, tu sĩ luôn hướng về phía chân trời của đạo, cho dù biết rằng sẽ đối diện với niềm cô đơn cùng cực và sự vây khốn của thế giới tâm đầy biến loạn, khi khởi lên ý niệm phân biệt:

“Ta quỳ xuống, hoang vu niềm khổ lụy

Gặp trăm đời trong nửa niệm phân ly!”

Thế giới thi ca của thi sĩ Minh Đức Triều Tâm Ảnh hay có thể gọi hồn thơ của tu sĩ Giới Đức là những câu chữ xô đẩy đến đỉnh trời của vô tính, nhưng lại thấm đẫm tình người. Tình yêu của những bước chân dấn thân vào con đường xa hút hình bóng cõi nhân tình thế thái. Phải chăng đó là trạng thái phân thân giữa thơ và thiền, giữa trần gian và cõi đạo, để thi nhân phải dứt khoát đoạn tuyệt thế giới của thi ca, chỉ vì:

“Lửa và bụi lân la hai bờ giấy

...

Trăng thi thiết đã quên lòng giếng cũ”.

Lê Huỳnh Lâm | Báo Văn nghệ

https://baovannghe.vn/minh-duc-trieu-tam-anh-thi-si-cua-nhung-gia-hop-16154.html



Tin tức khác

· CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975
· LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG
· TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG
· NHỮNG PHẬN NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA DƯƠNG HƯỚNG
· NHÀ THƠ ĐẶNG ĐÌNH HƯNG - MỘT CUỘC CÁCH TÂN THƠ ÂM THẦM - Tiểu luận NGUYỄN THỤY KHA
· 40 NĂM TÌM CON GÁI CHO CHA
· NƠI YÊN NGHỈ CỦA VỊ VUA 'HỒI HƯƠNG' SAU 46 NĂM Ở THANH HÓA
· VÀM CHÀ LÀ - MIỀN KÝ ỨC TUỔI THƠ CỦA LUẬT SƯ, CHỦ TỊCH NGUYỄN HỮU THỌ
· MỘT CƠN MƯA RẤT NHẸ TRÊN VAI TRỊNH CÔNG SƠN
· TẾT TRONG VĂN HỌC NAM BỘ HIỆN ĐẠI - KÝ ỨC BẢN ĐỊA TRƯỚC DÒNG CHẢY THỜI ĐẠI
· NGUYỄN BÍNH - NGƯỜI GỌI HỒN QUÊ - Tiểu luận HỮU THỈNH
· BỘN BỀ CUỘC SỐNG TRONG THƠ PHAN HOÀNG
· BẤT NGỜ... ĐỖ NGỌC YÊN
· HÃY SỐNG NHƯ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT - MỘT NHAN ĐỀ ĐỘC ĐÁO
· NỖI NHỚ TẾT NHÀ QUA NHỮNG TRANG VIỆT NGỮ Ở HẢI NGOẠI
· TRUYỆN NGẮN HỒ LOAN VÀ HAI PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT - Tiểu luận MAI BÁ ẤN
· PHẠM NGỌC CẢNH VÀ TÂM TÌNH MỘT NHÀ THƠ MẶC ÁO LÍNH
· CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC - THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
· TRUYỆN NGẮN NĂM 2025 - MỘT NĂM ĐƯỢC MÙA - Tiểu luận HOÀI NAM
· DẤU XƯA NHẤT LINH

Tin tức mới
♦ CẢM THỨC CHIẾN TRANH VÀ NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ MIỀN NAM 1954 - 1975 (03/03/2026)
♦ LẦN THEO DẤU CHÂN 'NHỮNG CON NGỰA THỒ VĂN CHƯƠNG' XỨ QUẢNG  (03/03/2026)
♦ TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ THƠ CA - Tiệu luận ĐẶNG HUY GIANG (03/03/2026)
♦ ĐÊM THƠ NGUYÊN TIÊU BÍNH NGỌ 2026 TẠI XÃ TAM MỸ: 'TRƯỚC BIỂN LỚN: QUÊ HƯƠNG - TIẾNG THƠ, NHỊP SÔNG' (03/03/2026)
♦ NGÀY THƠ VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH: 'TIẾNG GỌI ĐÔ THỊ MỚI' (03/03/2026)
Bạn đọc
Quảng cáo
 

Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương

Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)

Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.

Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.

Tong truy cap Tổng truy cập: 1907220
Trong thang Trong tháng: 177693
Trong tuan Trong tuần: 81
Trong ngay Trong ngày: 83933
Truc tuyen Trực tuyến: 3

...

...

Designed by VietNetNam