TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NGƯỜI THẦY TRONG THƠ VIỆT -Tiểu luận MAI BÁ ẤN
NGƯỜI THẦY TRONG THƠ VIỆT -Tiểu luận MAI BÁ ẤN
- MAI BÁ ẤN
“Tôn sư trọng đạo” là một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam: Tôn kính thầy, trọng đạo lý. Đạo lý đó chính là đạo đức, tri thức mà người thầy truyền đạt mà người Việt ta xưa gọi là “Đạo Học”. Dân ta thường gọi tôn giáo là Đạo (Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa…) thì “Đạo Học”, “Đạo Thầy trò” cũng được tôn vinh như một thứ tín ngưỡng đặc sắc Việt Nam, làm nên giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống từ đời này sang đời khác.
(Bài đã in Hà Nội mới cuối tuần)
Nếu nói, triết lý sống người Việt thể hiện nhiều ở ca dao, tục ngữ thì rõ ràng, từ tục ngữ, ca dao xưa, đạo thầy trò đã được người bình dân nhắc đến khá nhiều:“Không thầy đố mày làm nên”, “Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”… Có chữ hơn thì là “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”...
Trong văn chương trung đại có rất nhiều tác phẩm viết về người thầy. Người thầy lớn sống và dạy học từ thế kỷ XIV Chu Văn An (1292 - 1370) mãi đến sau này (nửa cuối thế kỷ XIX) còn được Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến hết lời tôn vinh trong “Vịnh Chu Văn An”:
Si mị do kinh thất trảm chương
Kính tiết dĩ bằng thiên địa bạch
Dịch nghĩa:
Ma quỷ còn khiếp sợ tờ sớ xin chém bảy người gian
Khí tiết mạnh mẽ đã sáng tỏ cùng với đất trời.
Đến thời hiện đại, hình ảnh thầy cô giáo cũng được các nhà thơ thể hiện bằng tất cả lòng tôn kính, kể cả người thầy trong thời chiến lẫn thời bình.
Từ người thầy chưa từng qua đào tạo dưới mái lá đơn sơ trong phong trào “bình dân học vụ” những năm đầu kháng chiến chống Pháp:
Nghiêng đầu trên tấm bảng chung
Phơ phơ tóc bạc, bạn cùng tóc xanh
Này em, này chị, này anh
Chen vai mà học, rách lành sao đâu!
I tờ mớm chữ cho nhau
(Trường tôi - Tố Hữu)
đến những thầy giáo ít chữ, cốt dạy cho trò biết chữ vào những tháng năm kháng chiến chống Mỹ gian khổ ở Trường Sơn:
Giặc dành cho ta nhà tù, bom đạn
Bảy năm rồi trong máu lửa đấu tranh
Thầy giáo dạy em năm trước học vần
Vẫn chưa vượt quá chương trình cấp một!
Vẫn chật vật với những bài số học!
Thư viết cho em phải xóa sửa mấy lần!
(Nghe em vào đại học - Giang Nam).
Đúng như lời Bác Hồ dặn dò trong bức thư cuối cùng Người gửi ngành giáo dục nước nhà nhân năm học mới 1968 - 1969 : “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt” (đăng trên Báo Nhân Dân, số ra ngày 16-10-1968).
Đến khi đất nước hòa bình, thống nhất, những tháng năm bao cấp khó khăn, thầy cô giáo là những người gánh chịu nhiều thiếu thốn:
Đất nước trở trăn trong thiếu thốn và nghèo
Chúng tôi nhiều khi phải tự góp thêm công để các em có đủ ghế ngồi và tự sớt đồng lương cho những lần thiếu phấn,
Nhưng cố gắng vượt mọi khó khăn đời thường để giữ trọn lòng mình trên bục giảng:
Chúng tôi gìn giữ trái tim chân thực hằng giờ
Các em hồn nhiên mà ánh mắt long lanh soi rọi thế
Cái bục giảng không cao nhưng đã có bao người vấp té
Viên phấn của lòng mình không giữ nổi trên tay
(Bụi phấn - Đoàn Vị Thượng).
Trong đó, sáng ngời tấm gương những thầy giáo thương binh trở về từ cuộc chiến:
In lên cổng trường những chiều giá buốt
In lên cổng trường những đêm mưa dầm
Dấu nạng hai bên như hai hang lỗ đáo
Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo
Như nhận ra cái chưa hoàn hảo
Của cả cuộc đời mình
(Bàn chân thầy giáo - Trần Đăng Khoa).
Rồi khi chiến tranh biên giới nổ ra, những người thầy lại tiếp tục rời mái trường, lên đường đánh giặc, để lại bao nhớ thương trong lòng những đồng nghiệp và học trò:
Lại mùa thu, cúc trổ bông
Bạn đồng nghiệp nữ về đông hơn nhiều
Thương học trò biết bao nhiêu
Nhớ thầy không nói mắt đều tròn xoe
(Gửi đồng nghiệp xa trường - Đoàn Vị Thượng).
Cho dù trải qua bao nhiêu khó khăn, vất vả, thầy cô giáo vẫn mãi là người giữ trọn sứ mệnh thiêng liêng: dìu dắt hoc sinh thân yêu biết ước mơ xa và khát vọng lớn:
Cô dắt con đi giữa phố đông
Tưởng như dắt mãi đến không cùng
Mai sau bay giữa vòm tinh tú
Cô vẫn cầm tay, con biết không?
(Trường con - Vũ Quần Phương).
Suốt đời thầm lặng làm người đưa con đò sang bến bờ tri thức cho bao lớp học trò:
Khúc sông ấy vẫn còn đây
Thầy đưa tiếp những đò đầy qua sông...
(Người lái đò - Thảo Nguyên)…
Và hàng năm, cứ đến Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11), bao nhiêu thế hệ những người học sinh không phân biệt tuổi tác (bởi trên đời ai cũng có ít nhất một người thầy) đều giữ tròn “Đạo Học”, gửi gắm tình cảm và lòng tri ân của mình đến với thầy cô giáo, đặc biệt là những thầy cô giáo cũ:
20 - 11 năm ấy
Thầy tôi tuổi vừa đôi mươi
Cô tôi mặc áo dài trắng
Tóc xanh cài một nụ hồng.
Bây giờ thì trò đã trưởng thành và thầy cô xưa cũng đà luống tuổi:
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.