TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NHÀ THƠ KHỔNG VĨNH NGUYÊN… ĐI
NHÀ THƠ KHỔNG VĨNH NGUYÊN… ĐI
thanh thảo
Khổng Vĩnh Nguyên-quê Phù Cát-Bình Định là một “nhà thơ nông dân” thứ thiệt. Không chỉ vì anh sinh ra và lớn lên ở nông thôn (hầu hết nhà thơ Việt Nam đều sinh ra và lớn lên ở nông thôn) mà vì anh đã từng là một “trai cày”-một người làm những công việc nhà nông một nắng hai sương hẳn hoi. Người như thế mà làm thơ, mà làm thơ hay, thì quí lắm! Tôi quen Khổng Vĩnh Nguyên từ cách đây một phần tư thế kỷ, khi anh từ quê lên đưa cho tôi bản thảo tập thơ của mình nhờ tôi biên tập và viết lời tựa.
Trước đó, tôi cũng là người biên tập và viết lời tựa, lời bạt cho rất nhiều tập thơ, nhưng phải nói, chưa tập thơ nào khiến tôi xao xuyến như tập thơ của chàng trai nông dân Khổng Vĩnh Nguyên. Không phải là người canh tân thi pháp hay từ ngữ, nhưng Nguyên có một thứ thơ “tận nguồn” trong trẻo và không kém linh hoạt. Điều đó chứng tỏ anh cũng có học ở mức độ nào đó, có đọc nhiều sách, nhất là đọc thơ, và cũng đi lại giao du với không ít người làm thơ. Tôi đã đoán đúng. Khổng Vĩnh Nguyên tuy không học bài bản ở trường ốc, nhưng anh cũng có học và nhất là chịu khó đọc sách. Anh cũng là người giao du khá rộng. Sau này thì tôi biết, một trong thế mạnh nhất của anh “nhà thơ nông dân” này là…đi. Đi xe đò, đi bộ, đi xe thồ, đi xe ôm…tóm lại là đi bằng nhiều phương tiện(thô sơ thôi) nhưng có thể đưa anh từ vùng này tới vùng khác, từ nhà người này tới nhà người khác. Và Khổng thi sĩ lang bạt kỳ hồ như thế, mỗi chuyến có khi kéo dài hàng tháng trời. Tôi hỏi Nguyên: vậy thì anh đi…cày vào lúc nào ? Khi tôi thấy anh luôn đi chúi mũi về phía trước trên những con đường…trải nhựa. “Túi không xu, cu không ngày” Khổng Vĩnh Nguyên cứ thế mê mải trên các con đường, dưới nắng trưa gay gắt. Anh đi tìm thơ cho mình. Và đúng là sau những chuyến đi vô định như vậy, Khổng Vĩnh Nguyên đều viết được những tập thơ mới. Thơ Nguyên có lúc đã vào tới “ tứ kết” trong một cuộc bầu chọn giải thưởng hàng năm của Hội nhà văn VN, dù anh chưa phải là hội viên. Nguyên cũng từng ra Hà Nội và…bám vào nhà thơ Trúc Thông trong những ngày “tha phương cầu thực”. Nhà thơ Trúc Thông rất quí Nguyên, và dù chẳng giàu có gì, anh vẫn lén vợ cho Nguyên tiền để ăn ở trong những ngày “tìm thơ” tại đất kinh kỳ. Đúng là “áo rách thương nhau”. Bây giờ đọc những bài viết về Nguyễn Bính hay một số nhà thơ tiền chiến, thấy hồi đó các ông cũng thường có những cuộc “phiêu lưu bỏ túi” “giang hồ vặt” như thế để tìm tứ thơ. Rất nhiều bài thơ hay của các cụ đã được làm ra trong tình trạng “không xu khô..cu” và “cày đường nhựa” như thế. Vậy thì Khổng Vĩnh Nguyên đã “đi đúng đường người trước đã đi” rồi! Có điều, bây giờ mà gặp một anh nhà thơ “giang hồ vặt” trong túi khô xu như thế cũng là một sự lạ, nên Khổng Vĩnh Nguyên luôn được bạn bè nhanh tay giúp...tiền và nhanh miệng giới thiệu anh đến với…địa chỉ khác. Bây giờ, ai cũng bận rộn, ai cũng lo làm ăn, nên gặp một nhà thơ chỉ…chơi như thế, dù là nông dân chăng nữa, vẫn thấy là lạ thế nào! Thời thế quả đã đổi thay! Dù lòng người thì vẫn thế! Nên Khổng Vĩnh Nguyên vẫn có thể tiếp tục những cuộc “du xuân” của mình, cho tới khi nào còn sức.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.