TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NHÀ THƠ TRẦN HỮU NGHIỄM - CÕI LÀM NGƯỜI CHÍNH LÀ CÕI THƠ CA
NHÀ THƠ TRẦN HỮU NGHIỄM - CÕI LÀM NGƯỜI CHÍNH LÀ CÕI THƠ CA
NGUỒN: Vanvn-Cập nhật ngày: 7 Tháng 7, 2025 lúc 17:23
Đã hơn 20 năm rồi, kể từ lúc Trần Hữu Nghiễm mất, một khoảng trống đen ngòm không đáy luôn hút xoáy – lúc nào tôi cũng hụt hẫng, chới với. Mãi mãi, tôi không còn dìu những cơn say và những câu thơ của anh về nhà nữa…
Nhà thơ Trần Hữu Nghiễm (1950 – 2000)
Nhà thơ Trần Hữu Nghiễm sinh năm 1950 ở Quảng Điền, Thừa Thiên- Huế, tốt nghiệp Khoa văn Đại học Sư phạm Huế, vào Tây Ninh dạy học, sau chuyển về Cà Mau tiếp tục dạy học. Ông đã xuất bản hai tập thơ: Xao xuyến không tan – NXB Mũi Cà Mau 1989, Trần Hữu Nghiễm – Thơ – Hội Văn Học Nghệ Thuật Cà Mau; được trao Giải B về thơ của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp năm 1988-1989, Giải B về thơ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội 1991. Ông mất vì bạo bệnh năm 2000.
Một người bạn điện thoại đến cho tôi, “Nghiễm ung thư phổi hả? Tao sẽ giúp nó ít tiền. Sẽ gọi điện đến thăm nó. Không đến nhà, sợ truyền nhiễm lắm!”.
Đối với Nghiễm, tôi cũng tàn bạo không kém.
Có lần Nghiễm đi ngang qua nhà tôi, anh dừng xe đạp, nói vói vào: “Mai tôi đi tái khám”. Lúc ấy, tôi đang bận một việc gì đó, vội giơ tay chào anh – một cử chỉ chiếu lệ, lạnh lẽo. Anh buồn, lầm lũi đạp xe đi, chiếc xe ngoằn ngoèo liêu xiêu, lạc nẻo nhẹ tênh trên đường.
Nghiễm nghèo, sống khổ hạnh. Tính tình đôn hậu. Rất nhiều bạn bè yêu mến anh. Anh bị ung thư phổi. Vết mổ dài từ lưng vòng qua ngực trái. Một bác sĩ cực giỏi chuyên khoa giải phẫu đã cắt phổi cho anh. Suốt năm cứ đến định kỳ là anh đi tái khám, xạ trị ở sài Gòn. Mỗi ần đi, anh đều đến tôi, cùng nhau đến một quán nào đó, uống cà phê, như một buổi từ giã. Ở đấy, tôi nghe tiếng ho của anh. Tôi quan sát sắc diện, những ngón tay, ngón chân của anh và thật sợ hãi vì tôi cảm nhận thật rõ ràng, bóng tối đang chậm chạp lan dần, phủ lên người anh. Nhưng có lẽ, anh không cảm thấy như thế. Anh đọc những bài thơ mới của anh. Đôi mắt yếu ớt của anh rực cháy theo từng câu thơ.
Những bài thơ đã làm anh vang danh khắp nước. Thật kỳ lạ: một chút cổ phong, một chút muộn phiền, một chút phiêu bồng đã tạo nên những vần thơ mênh mông chan chứa tình người. Thơ anh trong những ngày này, không bao giờ gây cảm xúc đối với tôi. Dù anh có gắng đọc bao nhiêu bài, bao nhiêu câu đi nữa; với tôi, những câu thơ ấy bay đi. Chỉ còn đôi mắt nai già của anh, chỉ còn chòm tóc bạc khô cắn vào những sợi tóc đen một cách bàng hoàng, chỉ còn màu da xạm chất phóng xạ… Tất cả như trên một sợi chỉ mành.
Nhà anh, phía trước bán tạp hóa nhỏ. Góc trong anh ngồi lọt thỏm giữa một rừng sách vở. Với chiếc máy chữ cũ kỹ, anh mải miết gõ những bài thơ của anh và gửi đi cộng tác khắp nơi – Báo của Trung ương, của tỉnh, của các ban ngành … đều có thơ anh. Những bài thơ ngắn chứa chan tình người đã tấn công vào mọi thành trì của báo chí. Hàng tuần, nhất định phải có vài tờ báo in thơ anh. Mùa xuân vừa rồi (năm 2000) 67 tờ báo Xuân in thơ anh. Thoạt đầu, người ta nghĩ anh là một người có lòng, không tính anh là một thi tài. Nhưng càng về sau, nhất là khi anh chớm bệnh, những bài thơ của anh hay và buồn đến nỗi có thể bật khóc được.
Bìa tập “Trần Hữu Nghiễm – Thơ”
Anh kéo cả gia đình vào cơn lũ của văn chương. Chị Hương – vợ anh – sau giờ dạy học, viết bài cho các báo. Đứa con đầu lòng của anh miệt mài dịch các truyện ngắn qua bản tiếng Anh. Nhà anh như một tòa soạn báo : người làm thơ, người viết văn, người viết thư trả lời độc giả, giao dịch với các nhà văn, nhà thơ ở Hà Nội, ở Huế, ở Sài Gòn … Thật tất bật, ngổn ngang trăm mối. Muốn tìm một quyển sách để tham khảo, phải xới tung cả hai, ba núi sách để rồi ngẩn ngơ, mệt nhoài trước một bãi sách lộn xộn mà quyển sách cần tìm vẫn chưa thấy bóng dáng nó đâu… Tuy thế, nơi anh ngồi làm việc bao giờ cũng tỏa ra một không khí yên lành, thanh sạch. Bệnh hoạn, nhưng coi như không có bệnh. Chắt óc, quằn quại từng chữ cho thơ, nhưng phong thái như nước chảy, hoa trôi. Cô đơn, nhưng hồn tràn đầy giai điệu của thi ca.
Mỗi chúng tôi đều mang một nỗi cô đơn. Cô đơn dữ dội như tâm hồn chúng tôi đang xảy ra nội chiến. Nghiễm u uẩn: “Nếu ở đây không có ông, tôi chẳng biết trò chuyện với ai”. Tôi hoài nghi: “Sao vậy? Anh quen biết bao người. Nhiều người thương yêu, mến mộ anh”. Anh trả lời: “Không thể.”. Tôi hiểu cảm giác của anh. Thương người. Bao dung. Mà anh vẫn ngỡ ngàng biết bao trước những ứng xử hàng ngày. Ngắm nhìn. Nói cười. Bệnh tật. Đau đớn – tất cả đều trong thương yêu vụng dại để chữa cho mình khỏi cô đơn.
Anh bảo “Con điếm cũng là con người, sao mạt sát, rẻ rúng. Nguyễn Du đã đưa một cô gái làng chơi vào thi ca và làm vinh danh Thúy Kiều” ; “Văn chương bây giờ không hay, phải chăng do chúng ta sống một cuộc sống quá an bình, chỉ có thời buổi nhiễu nhương mới sinh ra những văn tài ?”. Anh lại bảo: “A ! Tôi đã “ngộ” ra rồi, với những bậc thiên tài như Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu đôi khi người đọc chỉ cần nhớ vài câu là đủ. Chỉ vài câu thôi đã đủ hàm súc, mạnh mẽ, tài hoa đến rợn người. Còn thơ của mình thì … Anh tra vấn tôi: “Sao lâu quá ông không viết. Viết đi. Đừng im lặng một cách khùng điên như thế”.
Anh không nói về những cơn đau. Chủ đề của anh vẫn là thi ca. vẫn mãi đến với thi ca trong cơn thèm khát, hung dữ. Nhớ anh. Nhớ Rimbeau quá đi thôi. Bồng bềnh, xả thân hút vào chân trời của thi ca. Uống những dòng thơ tuôn trào như người khổng lồ, cổ họng đang cháy khát muốn cạn cả đại dương mà không thỏa. Đôi mắt ướt, mênh mông. Một tay cầm viết, một tay móc tim mình phơi trên giấy. Đau đớn và chua xót biết dường nào. Còn mấy ai đọc thơ. Còn mấy ai tĩnh tâm để cảm nhận sự mầu nhiệm của thơ (?)
Những vết mổ. Những vết đau vạch từng đường dài trên cơ thể anh. Lần mổ thứ hai, cắt bỏ khối u ở tuyến thượng thận, anh suy kiệt thấy rõ. Tiếng nói anh hụt hơi – nói xong một câu, hơi thở hào hển, mồ hôi lấm tấm trên trán. Người anh đã nhẹ nhàng, sương khói lắm rồi.
Rồi vẫn máy chữ, gõ những bài thơ. Vẫn những thùng thư bưu điện. Vẫn những quầy sách.
Và quán cà phê ngồi cho đến khuya. Không còn khách nữa, chỉ còn mỗi bàn chúng tôi. Một bình trà. Hai cốc cà phê. Một gói thuốc. Một bật lửa. Một ngọn đèn. Chúng tôi trông ra những chiếc xe tải đồ sộ. Những người phu đang gồng vai khiêng những thùng cá lên xe, nước chảy xối xả trên mặt đường. Một cõi đời. Một cõi văn chương. Bao giờ tôi cũng chủ động: “Khuya quá! Mình về”. Muôn lần như một, anh nuối tiếc: “Ngồi với tôi thêm chốc nữa. Tôi thèm nói chuyện…”.
Tôi ái ngại vì quá dứt khoát, bèn vớt lại : “Mai lại gặp”. Là hẹn thế, chứ tôi biết, tôi là người lông bông, sa đà với những anh em khác mà không có anh. Anh có vẻ ngơ ngác trước những chức sắc văn nghệ. Ở đấy, tôi cười lớn. Nói lớn. Tác phẩm lớn. Anh bị choáng ngộp, tủi hổ. Tôi quá biết, những hư danh ấy chỉ là khoảnh khắc, mà tôi vẫn ra sức níu kéo, để có ảo tưởng, dầu gì, mình cũng là gương mặt văn nghệ hôm nay. Và biết rất rõ, tàn cuộc, tác phẩm mình chẳng là gì, văn chương mình chẳng là ai. Tiếc thay, tôi đã làm khổ anh nhiều trong không khí đầy ảo tưởng ấy. Anh chỉ biết nuốt vào những đắng cay, mải miết ẩn nhẫn làm việc. Ẩn nhẫn mà ung thư. Ẩn nhẫn trong tiếng dao kéo cắt mổ. Một mình nằm trong căn phòng ung thư. Một mình để phóng xạ bắn vào người.
Và một mình cúi lạy tạ ơn đời.
Đã hơn 20 năm rồi, kể từ lúc Nghiễm mất, một khoảng trống đen ngòm không đáy luôn hút xoáy – lúc nào tôi cũng hụt hẫng, chới với.
Mãi mãi, tôi không còn dìu những cơn say và những câu thơ của anh về nhà nữa.”
Anh Nghiễm.
Chia tay. Anh đi.
Tôi cũng quá mỏi rồi, nhưng vẫn gắng bận bịu nói cười, hờn giận để trả nốt những món nợ cho đời. Sẽ đến sau. Ở cõi không hẳn có một quán cà phê đen tuyệt ngon. Chúng ta lại ngồi với nhau và đôi mắt hãy còn nhòa lệ trần gian.
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.