TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Diễn đàn lý luận
NHÀ VĂN PHÁP CÓ MỐI THÂM GIAO VỚI NGUYỄN ÁI QUỐC
NHÀ VĂN PHÁP CÓ MỐI THÂM GIAO VỚI NGUYỄN ÁI QUỐC
HỮU NGỌC
Khi Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) hoạt động ở Paris, ông quen biết ba nhà văn Pháp nổi tiếng, đều theo lý tưởng dân chủ: Henri Barbusse hơn ông 17 tuổi, Romain Rolland hơn 24 tuổi, và Paul Vaillant Couturier kém ông 2 tuổi. Hai nhà văn lớn tuổi đã giúp Nguyễn Ái Quốc xin phép cho ra tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). H.Barbusse còn đứng ra bảo lãnh cho Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Hai ông này còn cho báo nhờ trụ sở của nhóm Ánh Sáng (Clarté) do hai ông sáng lập ra để tập hợp các nhà văn dân chủ.
Hơn chục năm sau khi rời khỏi Pháp, Nguyễn Ái Quốc gặp lại H.Barbusse ở Liên Xô năm 1935, gặp khi nhà văn này sang thăm đất nước của Lê-nin và đột nhiên bị bệnh nặng. Nguyễn Ái Quốc đi dưỡng sức ở bờ biển miền Nam về Mat-xcơ-va thì người bạn vong niên, người đồng chí cũ đã hấp hối. Nhân dân Liên Xô đến vĩnh biệt nhà văn quốc tế rất đông. Thi hài ông được đưa về Pháp.
Là con một nhà báo, Henri Barbusse (1873-1935) học văn rồi viết báo. Ngay sau khi tốt nghiệp trung học, ông giao du với giới văn nghệ thuộc phái tượng trưng và làm thơ tượng trưng. Năm 1903, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết “Những kẻ van xin” (Lés Suppliants), và 5 năm sau là cuốn Địa ngục (L‘Enfer), câu chuyện xẩy ra từ đầu đến cuối trong một phòng khách, tố cáo sự vô luân của thành thị làm dư luận xôn xao – phong cách hiện thực rắn rỏi, mạnh dạn. Năm 1914, đã 40 tuổi ông tham gia Chiến tranh thế giới I. Từ binh nhì, ông được phong trung úy. Năm 1916, giữa cuộc chiến, ông cho ra đời tác phẩm “Khói lửa” (Le feu) cuốn sách mang lại cho ông giải thưởng Goncourt. Cuốn “Khói lửa” có phụ đề là “Nhật ký một tiểu đội” miêu tả tình cảnh thảm khốc ngoài mặt trận, trong chiến hào, miêu tả quá trình giác ngộ của người lính Pháp, dần dần thấy tính chất phi lý của chiến tranh, nói lên khát vọng hòa bình sâu sắc của nhà văn.
Đây là “tác phẩm hiện đại đầu tiên” tả chiến tranh một cách trần trụi của nhà văn, theo bủt pháp tự nhiên chủ nghĩa, không tô vẽ bằng một lớp phấn “ái quốc” hay “anh hùng ca”. Người binh nhì kể về mình và cả tiểu đội với lời lẽ mộc mạc, ý vị vì dùng tiếng lóng của lính, vừa tục tằn vừa gây được cảm xúc. Sách gợi lên những ngày ở chiến hào buồn tẻ, bùn lầy, ướt át, bẩn thỉu. Những đêm run sợ dưới bom và đạn đại bác, những cuộc tấn công hãi hùng trong khói lửa đan xen với những sự việc lặt vặt như: tháo giầy ủng của các xác chết để đi, giấc mơ tầm thường của người lính, lễ misa cầu phước tổ chức cùng lúc ở hai chiến hào…
Trong địa ngục ấy, những con người đau khổ, bị hy sinh chỉ sống với những tình cảm thô sơ. Những tác phẩm khác đã phai mờ với thời gian. Riêng “Khói lửa” sẽ sống mãi với tính chất là tư liệu sâu sắc về nhân tính và là khuôn mẫu của một thể loại văn học đề cập đến chiến tranh với triết lý về con người, vượt ra ngoài ý thức hệ và chính trị. Trước chiến tranh, một đỉnh cao của thể loại này là tác phẩm của nhà văn Đức(quốc tịch Mỹ) F.M. Remarque “Phương Tây không có gì lạ” cũng viết về thế chiến I. “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh ít nhiều cũng có dáng dấp ấy, tuy không mang ý thức phản chiến và có ý nghĩa nhân văn khác. Trong “Khói lửa”, Barbusse đặc biệt miêu tả cảnh chiến trường rộng lớn của hai đoàn quân Pháp Đức như hai đàn kiến khổng lồ dàn trận trong cuộc chiến hầm hào…
Trong “Khói lửa”, Barbusse nói lên mối đồng cảm anh em giữa những người lính, mặc dù chênh lệch về tuổi, về địa vị xã hội, đến từ mọi miền đất nước. Họ gắn bó máu thịt với nhau trong nỗi kinh hoàng của các cuộc oanh tạc dữ dội và những ngày tháng buồn tẻ trong hầm bùn đợi lệnh phản công. Tác phẩm “Khói lửa” đã được quay thành phim ở Liên Xô vào năm 1929 với tên là “Những hồn ma không bao giờ hiện”.
Mãi 50 tuổi H.Barbusse mới vào đảng Cộng sản Pháp với khuynh hướng nhân văn.
Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống số 85, chủ nhật ngày 27-5-2012
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.